|
Nhân
câu chuyện điện năo đồ xét nghiệm nghiện ma túy:
Hiểu
kết quả xét nghiệm
Nguyễn
Văn Tuấn
Vấn
đề sử dụng điện năo đồ để “chẩn đoán” nghiện ma túy đang được xă
hội quan tâm, v́ hệ quả khôn lường của nó. Người viết bài này
không phải là một chuyên gia về vấn đề nghiện ma túy hay điện
biểu đồ, nên sẽ không dám lạm bàn sự thích hợp của phương pháp
xét nghiệm, mà chỉ muốn nhân cơ hội để bàn về một khía cạnh gần
gũi với bệnh nhân (và bác sĩ) hơn: cách hiểu kết quả một xét nghiệm, và diễn dịch nó như thế nào.
Giới
y học Tây phương thường ví chẩn đoán như là một bản án (a
diagnosis is a sentence). Trong khi bác sĩ có thể hài ḷng v́
đă t́m được bệnh và đặt tên cho căn bệnh, nhưng bệnh nhân phải
sống suốt đời với “bản án” đó, và trong nhiều trường hợp bệnh
nhân có thể t́m đến cái chết. Câu nói ví von đó đă thành sự
thật bi thảm qua trường hợp
một
giáo viên ở Sơn La đă tự vẫn
v́ bị chẩn đoán là nghiện ma túy (Lao Động 28/8/2006) và
nhiều
trường hợp
công chức mất việc chỉ v́ xét nghiệm điện năo đồ cho ra kết quả
dương tính.
Tất
cả những trường hợp trên xảy ra chỉ v́ một số bác sĩ và giới
chức y tế và chính quyền địa phương tin rằng một kết quả xét
nghiệm điện năo đồ dương tính có nghĩa là đối tượng nghiện ma
túy hay đang sử dụng ma túy. Nhưng rất tiếc đó là một hiểu lầm
rất tai hại. Nói một cách ngắn gọn: một kết quả dương tính
của bất cứ một phương pháp xét nghiệm nào, kể cả điện năo đồ,
không có nghĩa là nghiện ma túy hay đang sử dụng ma túy.
Để
giải thích cho phát biểu trên rơ ràng hơn, chúng ta có thể xem
xét các t́nh huống sau đây. Trong thực tế, một cá nhân hoặc là
bị nghiện (hay đang sử dụng ma túy), hoặc là không nghiện (không
sử dụng ma túy). Kĩ thuật xét nghiệm chỉ là một phương pháp
gián tiếp mà thôi, chứ không thể phản ảnh chính xác t́nh trạng
của một đối tượng. Ở mức độ đơn giản một phương pháp xét nghiệm
cho ra kết quả dương tính hoặc âm tính. Do đó, chúng ta có 4
t́nh huống có thể xảy ra trong thực tế:
- Đối tượng sử dụng
ma túy, và kết quả xét nghiệm là dương tính. Đây là t́nh
huống dương tính thật;
- Đối tượng sử dụng
ma túy, và kết quả thử nghiệm là âm tính. Đây là t́nh huống
âm tính thật;
- Đối tượng không sử
dụng ma túy, nhưng kết quả xét nghiệm là dương tính. Đây là
t́nh huống dương tính giả; và
- Đối tượng sử dụng
ma túy, nhưng kết quả xét nghiệm là âm tính. Đây là t́nh
huống âm tính giả.
Nếu
một phương pháp xét nghiệm hoàn hảo th́ t́nh huống 3 và 4 sẽ
không xảy ra. Nhưng trong thực tế, không có một phương pháp xét
nghiệm nào, dù tinh vi đến đâu đi nữa, là hoàn hảo và chính xác
tuyệt đối cả. Ngay cả kĩ thuật quang tuyến X để chẩn đoán ung
thư vú (mammography) và xét nghiệm bệnh SIDA cũng không chính
xác tuyệt đối! Do đó, người ta buộc phải chấp nhận một số sai
sót. Chẳng hạn như một phương pháp xét nghiệm có triển vọng ứng
dụng trong lâm sàng phải có tỉ lệ dương tính thật và âm tích
thật trên 85%. Nếu ứng dụng trong một quần thể rộng hơn th́ hai
tỉ lệ này phải trên 90%. Thông thường, một phương pháp xét
nghiệm trước khi đem vào ứng dụng cho một quần thể lớn, các tỉ
lệ này cần phải được xác định trên nhiều quần thể độc lập, chứ
không phải một nghiên cứu đơn lẻ được.
Trong
t́nh huống 1 và 2, kết quả xét nghiệm phù hợp với thực tế, cho
nên không có vấn đề ǵ. Tuy nhiên t́nh huống 3 có lẽ là t́nh
trạng mà một số người ở Sơn La đang bị hàm oan. C̣n t́nh huống
4 th́ chúng ta chưa biết bao nhiêu, v́ có thể người có kết quả
âm tính nhưng trong thực tế có sử dụng ma túy sẽ chẳng bao giờ
phàn nàn với các cơ quan chức năng!
Đối
với đối tượng được xét nghiệm và bác sĩ, câu hỏi đặt ra là
nếu kết quả là dương tính th́ xác suất mà đối tượng sử dụng ma
túy là bao nhiêu? Hỏi cách khác: trong số những người có
kết quả xét nghiệm dương tính, bao nhiêu người thật sự nghiện ma
túy. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải biết ba thông
số: thứ nhất là tỉ lệ sử dụng ma túy trong một cộng đồng; thứ
hai là tỉ lệ dương tính thật; và thứ ba là tỉ lệ dương tính giả.
Chúng
ta biết rằng Sơn La hiện nay có khoảng 1% người nghiện ma túy (Lao
Động 28/08/2006).
Nhưng
chúng ta chưa biết độ chính xác của phương pháp điện năo đồ là
bao nhiêu. Nói cách khác, chúng ta chưa biết bao nhiêu phần
trăm kết quả xét nghiệm là dương tính thật và bao nhiêu phầm
trăm là dương tính giả? Kinh nghiệm từ các phương pháp xét
nghiệm tinh vi như quang tuyến X để truy t́m ung thư vú cho thấy
tỉ lệ dương tính thật là khoảng 95% và tỉ lệ dương tính giả
khoảng 4%.
Nếu
kĩ thuật điện năo đồ đạt được độ chính xác như trên, chúng ta có
thể trả lời câu hỏi trên khá dễ dàng qua một ví dụ như sau:
- Giả dụ như một
cộng đồng với 10.000 người, và với tỉ lệ sử dụng ma túy
1%, chúng ta biết rằng có 100 người thật sự sử dụng ma
túy và 9.900 người không sử dụng ma túy;
- Nếu 100 người
sử dụng ma túy đó đi xét nghiệm điện năo đồ, sẽ có 95
người có kết quả dương tính (v́ tỉ lệ dương tính thật là
95%);
- Nếu 9.900
người không sử dụng ma túy đi xét nghiệm điện năo đồ, sẽ
có 396 người có kết quả dương tính (v́ tỉ lệ dương tính
giả là 4%);
- V́ thế trong
cộng đồng sẽ có 491 người (tức 95 + 396) có kết quả
dương tính. Nhưng trong số này chỉ có 95 người là thật
sự sử dụng ma túy, c̣n 396 người kia là do sai sót của
kĩ thuật xét nghiệm. Do đó, xác suất mà một đối tượng
có kết quả xét nghiệm dương tính và thật sự sử dụng ma
túy là 95/491 = 0,193 hay 19,3%.
Kết
quả tính toán trên đây có nghĩa là, trong một cộng đồng dân số
như ở Sơn La với 1% người nghiện ma túy và nếu phương pháp xét
nghiệm điện năo đồ chính xác như quang tuyến X, chỉ có 1 trong
số 5 người có kết quả xét nghiệm dương tính thật sự nghiện ma
túy (4 người c̣n lại là bị hàm oan).
Giả
dụ như một đối tượng đi xét nghiệm và có kết quả dương tính, bác
sĩ nên nói ǵ với đối tượng? (Chắc chắn không phải là “Anh nên
vào trung tâm cai nghiện”). Theo các chuyên gia về thông tin,
cách truyền đạt thông tin tốt nhất là nói thật với đối tượng:
“Cứ 100 người như anh đi xét nghiệm và có kết quả dương tính th́
khoảng 20 người bị nghiện ma túy; tuy nhiên tôi không biết anh
có nằm trong 20 người đó hay không. Tôi cần phải xem xét đến
các yếu tố khác nữa”.
Xin
nhấn mạnh một lần nữa kết quả trên chỉ đúng với điều kiện kĩ
thuật xét nghiệm có độ chính xác tương đương với độ chính xác
của kĩ thuật xét nghiệm X quang (95% dương tính thật và 4% dương
tính giả). Trong thực tế, rất ít kĩ thuật xét nghiệm đạt được
độ chính xác đó. Ngay cả kĩ thuật xét nghiệm hiện đại như GC-MS
(gas chromatography – mass spectrometry) để truy t́m sử dụng ma
túy cũng chỉ có độ dương tính thật khoảng 60% đến 95%, và dương
tính giả khoảng 1-2%). Nếu kĩ thuật điện năo đồ có độ chính xác
thấp và dương tính giả cao th́ xác suất mà đối tượng thật sự sử
dụng ma túy c̣n thấp hơn con số 19%.
Với
một xác suất 19% (hay thấp hơn), đối tượng có nên được gửi đi
điều trị cai nghiện hay không? Theo tôi, v́ xác suất quá thấp,
cho nên chẩn đoán c̣n quá nhiều bất định, và việc gửi đối tượng
đi điều trị hay can thiệp vào đời sống và sự nghiệp của đối
tượng là quá vội vàng.
Thật
ra, theo các chuyên gia nghiên cứu về nghiện, “hội chứng” nghiện
ma túy là một t́nh trạng phức tạp chịu nhiều ảnh hưởng từ các
yếu tố môi trường và sinh lí. V́ thế, việc xác định một đối
tượng nghiện hay không nghiện ma túy rất phức tạp, chứ không đơn
thuần bằng một xét nghiệm như điện năo đồ. Ngay cả các phương
pháp xét nghiệm “cổ điển” như thử máu và phân tích nước tiểu
cũng không hoàn hảo v́ tỉ lệ dương tính giả c̣n khá cao (hơn
10%!) Ngoài ra, các yếu tố lâm sàng đặc thù cho từng cá nhân
c̣n phải xem xét cẩn thận. Nói cho cùng chẩn đoán là 50% nghệ
thuật và 50% là khoa học.
Điện
năo đồ (electroencephalogram hay thường viết tắt là EEG), như
tên gọi, là một kĩ thuật ghi hoạt động điện của các phần năo.
Kĩ thuật này thường được sử dụng để giúp t́m hiểu và chẩn đoán
các bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh như bệnh co giật, chấn
thương sọ năo, nhức đầu, rối loạn tâm thần, v.v… Rất khó mà phân
biệt độ đặc hiệu của các tín hiệu này là hệ quả của nghiện ma
túy hay các bệnh vừa kể. Đây là lần đầu tiên người viết nghe
đến việc ứng dụng kĩ thuật điện năo đồ trong việc chẩn đoán
nghiện ma túy. T́m trong y văn thế giới cũng chưa thấy một ứng
dụng như thế.
Tuy
nhiên, theo
một
giáo sư th́
kĩ thuật xét nghiệm điện năo đồ đă được nghiên cứu và kết quả đă
“được duyệt từ cấp Bộ đến cấp nhà nước. […] Đề tài này được
đánh giá xuất sắc, phổ cập trên toàn quốc”. Có thể nghiên
cứu này xuất sắc qua thẩm định của các quan chức y tế, nhưng v́
kết quả của công tŕnh nghiên cứu này chưa được công bố trên một
tập san y học có b́nh duyệt, nên rất mà khó biết giá trị khoa
học của công tŕnh nghiên cứu ra sao.
Nếu
có thể, tác giả của công tŕnh nghiên cứu điện năo đồ và nghiện
ma túy nên công bố kết quả trên một diễn đàn nào đó, như
ykhoa.net chẳng
hạn, để các đồng nghiệp và công chúng có thể xem xét. Việc công
bố công tŕnh nghiên cứu rất quan trọng, bởi v́ nghiên cứu đó do
chính phủ tài trợ (tức từ thuế của dân), và do đó người dân có
quyền biết các nhà nghiên cứu làm ra sao và kết quả như thế
nào.
Trước
những sự cố đáng tiếc xảy ra gần đây, có lẽ phương pháp xét
nghiệm điện năo đồ trong việc chẩn đoán nghiện ma túy cần phải
được thẩm định (bởi các chuyên gia dịch tễ học độc lập) lại để
tránh những sai sót chết người có thể xảy ra trong tương lai.
Ghi
thêm:
Hiểu
lầm kết quả chẩn đoán, rất tiếc, đây không phải là những trường
hợp duy nhất xảy ra ở nước ta, mà đă từng xảy ra trên khắp thế
giới, ngay cả ở Mĩ nơi có hệ thống xét nghiệm hiện đại và tinh
vi. Hậu quả của những sai sót này có khi rất tốn kém. Câu
chuyện sau đây là một trường hợp khá tiêu biểu. Bệnh nhân (tạm
gọi là Betty) là một góa phụ 45 tuổi, với ba con, sống ở bang
Florida (Mĩ). Một hôm vào tháng 11 năm 1990, Betty nhận điện
thoại từ văn pḥng y tế địa phương yêu cầu chị đến trụ sở văn
pḥng, nơi mà chị từng đến khám bệnh tuyến giáp và thử máu. Khi
chị ghé sở y tế, bác sĩ cho chị biết rằng chị bị bệnh SIDA. Bác
sĩ không chắc là chị sẽ sống được bao lâu. Những tháng sau hung
tin đó là những chuỗi ngày buồn rầu và lo lắng. Chị xem ti-vi
liên tục để cố t́nh xua đuổi cái ư tưởng chị bị bệnh AIDS ra
khỏi tâm trí. Nhưng oái oăm thay, cái ư tưởng đó cứ đeo đuổi
chị măi: chị sẽ mặc áo ǵ khi chết, con cái chị sẽ sống ra sao
sau khi chị qua đời, và bạn bè chúng sẽ nh́n chúng như thế nào?
Năm
1992, bác sĩ cho chị dùng thuốc didanosine (một loại thuốc kháng
HIV). Biến chứng của thuốc làm cho chị bị ói mửa thường xuyên,
hay mệt mỏi, và vài vấn đề khác. Khi chị tham gia vào hội những
người bị bệnh SIDA ở địa phương, người cố vấn ở đó nhận thấy hàm
lượng tế bào T của chị khá cao. Họ đề nghị chị nên đi tái
khám. Tháng 11 năm 1992, Betty lại nhận một cú điện thoại từ sở
y tế địa phương, yêu cầu chị ghé văn pḥng sở sớm. Khi chị ghé
văn pḥng sở, chị được cho biết rằng kết quả thử nghiệm AIDS của
chị là âm tính (tức là chị có thể không bị AIDS)!
Betty
kiện bác sĩ, trung tâm thử nghiệm HIV, và sở y tế Florida ra
ṭa. Bồi thẩm đoàn bồi thường cho Betty 600.000 Mĩ kim v́ đă
phải chịu qua hai năm trời đau khổ với bản án y khoa không có
thật (Trích từ sách: AIDS update 1999: An annual overview of
acquired immune deficiency syndrome của tác giả GJ Stine (trang
359), Nxb Upper Saddle River, NJ: Prentice-Hall, 1999).
|