www YKHOANET

NGHIÊN CỨU Y KHOA

B́nh luận y khoa

Bài giảng thống kê sinh học - (Biostatistics)

Nghiên cứu khoa học

Thống kê R

Từ điển y khoa

Tạp chí y khoa

 

H́nh ảnh y khoa

Nội soi: Atlas h́nh ảnh nội soi đường hô hấp trên

Nội soi: Atlas h́nh ảnh nội soi cổ tử cung

MRI: Atlas h́nh ảnh MRI cột sống

 

GÓC SINH VIÊN Y KHOA

Atlas ykhoa

Thông tin sinh viên

Triệu chứng học nội khoa

Thông số Cận Lâm Sàng

 

TRƯỜNG  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Phụ trách thường trực:
GS Nguyễn Văn Tuấn
TS Nguyễn Đ́nh Nguyên
BS Phan Xuân Trung

 

Về học vị tiến sĩ

 

Nguyễn Văn Tuấn

 

Trong một bài viết trước, tôi có viết rằng học vị tiến sĩ (Doctor of Philosophy, thường viết tắt là Ph.D) là một văn bằng cao nhất trong hệ thống văn bằng đại học.  Xă hội kính trọng những người có học vị tiến sĩ và gọi họ bằng danh xưng “Doctor”.  Ở nước ta ngày xưa, họ là những “ông nghè” được xă hội rất trân trọng.

 

            Ngày nay ở nước ta, có nhiều sinh viên có ư định theo học chương tŕnh tiến sĩ.  Đó là một phát triển đáng mừng, v́ các vị tiến sĩ là những người đóng vai tṛ rường cột cho nền khoa học nước nhà, và là một lực lượng giảng dạy tương lai.  Thế nhưng có vài dấu hiệu cho thấy động cơ của việc theo học tiến sĩ h́nh như không phải để đi t́m sự thật khoa học hay mở mang trí tuệ, mà chỉ để có cái danh “tiến sĩ” trước tên ḿnh.  Một số khác th́ v́ lí do thăng quan tiến chức nên t́m mọi cách theo học và “lấy cho được” học vị tiến sĩ.  Thiết tưởng đây là những ngộ nhận nguy hiểm về học vị tiến sĩ cần phải được giải thông. 

 

            Trong bài viết này tôi sẽ nêu ra một số câu hỏi để thí sinh trả lời xem ḿnh có phải là người thích hợp và xứng đáng để theo học tiến sĩ hay không.

 

Những câu hỏi thí sinh cần hỏi trước khi đệ đơn xin học tiến sĩ

 

Thứ nhất, ḿnh có muốn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học không?  Trước khi đệ đơn xin theo học chương tŕnh tiến sĩ, thí sinh nên cẩn thận cân nhắc mục tiêu lâu dài của ḿnh.  Bởi v́ để có được học vị tiến sĩ thí sinh phải làm nghiên cứu; do đó, thí sinh phải tự hỏi: nghiên cứu khoa học có phải là sự nghiệp ḿnh muốn dấn thân hay không?  Nếu câu trả lời là “muốn” th́ học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” cho con đường tiến thân.  Cố nhiên cũng có một số người tham gia nghiên cứu khoa học dù họ không có học vị tiến sĩ, nhưng đây là những trường hp ngoại lệ.  Nếu câu trả lời là “không”, th́ học vị tiến sĩ không phải dành cho thí sinh.

 

Thứ hai, ḿnh có muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng hay không?  Học vị tiến sĩ là một cái “chứng từ” để bước vào hay được “kết nạp” vào sự nghiệp khoa bảng (academic career).  “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học.  Cố nhiên, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng cơ hội tiến thân trong các nấc thang khoa bảng ngày nay cho những cá nhân như thế không mấy cao.  Nhiều trường đại học lớn trên thế giới đ̣i hỏi các giảng viên và giáo sư hay các nhà nghiên cứu phải có học vị tiến sĩ.  Tại sao?  Tại v́ họ muốn đảm bảo trường đại học có đầy đủ chuyên gia để giảng dạy các môn học cấp cao và bắt buộc các chuyên gia này phải làm nghiên cứu khoa học.  Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng không phải ai có bằng tiến sĩ đều có thể trở thành giáo sư.

 

            Nếu mục tiêu của thí sinh là dấn thân vào quản trị thương trường, kĩ nghệ và khoa học (như muốn làm giám đốc doanh nghiệp, giám đốc các cơ sở khoa học) hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ th́ thí sinh không nên theo học chương tŕnh tiến sĩ (mà nên theo học chương tŕnh thạc sĩ quản trị kinh doanh hay quản trị hành chính, MBA – Master of Business Administration), bởi v́ cốt lơi của học vị tiến sĩ (và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác) là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị.  Tôi biết ngày nay có đại học đưa ra chương tŕnh huấn luyện Tiến sĩ quản trị hành chính (Doctor of Business Administration), nhưng mục tiêu vẫn là đào tạo nhà nghiên cứu và giáo sư.

 

Tự đánh giá ḿnh: có hội đủ điều kiện để trở thành tiến sĩ hay không?

 

Thật là khó tự đánh giá khả năng của ḿnh, nhưng những đề mục sau đây có thể giúp cho thí sinh tự hỏi và trả lời:

 

·        Khả năng học vấn.  Trong khi theo học chương tŕnh cử nhân, thí sinh thường hay đạt điểm cao hay thường đứng đầu lớp hay đứng sau cùng trong lớp?  Ḱ thi trung học thí sinh đạt bao nhiêu điểm?  Ở các đại học Úc, thí sinh theo học tiến sĩ thường có bằng cử nhân hạng danh dự (honours) hay có bằng thạc sĩ.

 

·        Thời gian.  Thí sinh có sẵn sàng giải quyết một dự án nghiên cứu hay một vấn đề khó khăn mà ḿnh chưa bao giờ làm trước đây hay không?  Chương tŕnh học tiến sĩ thường kéo dài nhiều năm (tối thiểu là 3 năm, thường là 4-6 năm) với lao động cật lực.  Thí sinh có sẵn sàng hi sinh và bỏ qua các hoạt động và sinh hoạt thường ngày khác để theo đuổi nghiên cứu khoa học hay không?

 

·        Sáng tạo.  Khám phá trong nghiên cứu khoa học thường xảy ra khi (i) nhà nghiên cứu nghĩ ra một vấn đề mới; hay (ii) nhà nghiên cứu thẩm định một vấn đề cũ bằng một phương pháp mới.  V́ thế trước khi theo học tiến sĩ thí sinh nên tự xét ḿnh có cảm hứng giải quyết vấn đề (problem solving) hay không?  Thí sinh đă chuẩn bị cho những ḱ “nặn óc”, động năo và những suy nghĩ trừu tượng hay không?  Thí sinh có thích học toán học cao cấp không?

 

·        Tính ṭ ṃ cao độ.  Nghiên cứu đ̣i hỏi tính ṭ ṃ, nghi ngờ, và chất vấn.  Có khi nào thí sinh cảm thấy như bị cưỡng bách để t́m hiểu cho được thế giới chung quanh và t́m hiểu sự việc hoạt động hay xảy ra như thế nào?  Tính ṭ ṃ làm cho nghiên cứu khoa học dễ dàng hơn.  Thí sinh có đáp ứng được những ṭ ṃ riêng tư của ḿnh hay không?

 

·        Thích ứng.  Kinh nghiệm người viết bài này cho thấy rất ít thí sinh sẵn sàng chuẩn bị cho một chương tŕnh học tiến sĩ.  Họ cảm thấy chương tŕnh học hoàn toàn khác biệt với các chương tŕnh cử nhân và thạc sĩ.  Phần lớn thí sinh cảm thấy như ḿnh bước vào một thế giới mới, một thế giới mà cái ǵ cũng có vẻ bất định, và h́nh như chẳng ai biết được câu trả lời.  V́ thế, câu hỏi thí sinh cần phải tự trả lời là: ḿnh có khả năng thích ứng với một môi trường như thế hay không?  Thí sinh có chịu đựng nỗi t́nh huống mà hành tŕnh đi t́m lời giải đáp cho vấn đề dù không ai biết chắc câu hỏi chính xác là ǵ hay không?

 

·        Năng động.  Đến lúc thí sinh xong chương tŕnh cử nhân hay thạc sĩ, thí sinh thường quen với hệ thống thang điểm trong mỗi ḱ học hay ḱ thi.  Trong một chương tŕnh huấn luyện tiến sĩ, thí sinh không có thi cử như thời cử nhân, việc nghiên cứu cũng ít khi nào được phân chia một cách rành rọt, giáo sư hướng dẫn không phải lúc nào cũng bên cạnh để chỉ bảo từng việc, và thí sinh không nhận điểm ǵ cả.  Thí sinh có năng động để tự ḿnh làm việc với sự hướng dẫn và giám thị tối thiểu của giáo sư hay không?

 

·        Cạnh tranh.  Khi theo học tiến sĩ, thí sinh phải chấp nhận cạnh tranh cùng các thí sinh khác, không những tại trường ḿnh đang nghiên cứu, mà c̣n cạnh tranh với các thí sinh khác trên thế giới.  Cạnh tranh để hoàn tất nghiên cứu trước, để được giải thưởng, để được công bố nghiên cứu trước … Một luận án mà không có một giải thưởng nào hay không có một bài báo nào trên tập san khoa học thế giới là một luận án tầm thường.  Thí sinh có sẵn sàng tham dự vào một cuộc thi đua như thế hay không?  Trong vài ngành thực nghiệm, v́ cạnh tranh, thí sinh phải làm việc ngày và đêm trong pḥng thí nghiệm hay trong pḥng máy tính (có khi đến 12 giờ khuya) để hoàn tất nghiên cứu trước “đối phương”.  Thí sinh có sẵn sàng cho một cuộc chạy đua như thế không?

 

·        Tính chín chắn.  So với chương tŕnh cử nhân và thạc sĩ, chương tŕnh tiến sĩ là một chương tŕnh không có cấu trúc chặt chẽ.  Thí sinh có tự do để theo đuổi mục tiêu nghiên cứu của ḿnh đề ra, tự do hoạch định việc làm hàng ngày cho chính ḿnh, và tự do theo đuổi các ư tưởng khác (nhưng không thể bỏ qua mục tiêu của ḿnh).  Thí sinh có sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm cho chính ḿnh hay không?  Sự thành công hay thất bại trong việc theo học tiến sĩ tùy thuộc một phần lớn vào thí sinh.

 

Một vài cảnh báo

 

Một số thí sinh theo học tiến sĩ v́ những lí do và động cơ sai lầm.  Điều này dẫn đến hiện tượng thí sinh cảm thấy thất vọng sau một thời gian theo học, v́ yêu cầu lớn quá.  Do đó, trước khi dấn thân vào chương tŕnh học tiến sĩ, thí sinh cần phải nhận thức rơ ràng rằng:

 

·        Học vị tiến sĩ không có nghĩa là sẽ tự động đem lại thanh thế hay uy danh cho cá nhân.  Hầu hết các thí sinh đă đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu.  Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ.  Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, nó chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công tŕnh nghiên cứu nào có giá trị.

 

·        Học vị tiến sĩ không tự động nâng giá trị ư kiến của thí sinh.  Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ư kiến của họ.  Niềm tin này hoàn toàn sai.  Nhiều người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác.  Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

 

·        Học vị tiến sĩ không phải là mục tiêu sau cùng trong học hành, nghiên cứu.  Học vị tiến sĩ chuẩn bị thí sinh vào sự nghiệp nghiên cứu.  Nếu thí sinh chỉ muốn có mảnh giấy để treo trên tường th́ không nên theo đuổi học vị tiến sĩ.  Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có cơ hội để so sánh thành quả của ḿnh với các nhà khoa học khác.  Thí sinh sẽ nhận thức rằng cái được “tính sổ” không phải là danh xưng hay học vị tiến sĩ, mà là nghiên cứu khoa học do chính thí sinh tiến hành và hoàn tất.

 

·        Học vị tiến sĩ không bảo đảm thí sinh sẽ có công ăn việc làm ngay.  Có khi ngược lại: sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ có thể khó t́m việc làm hơn là sinh viên tốt nghiệp cửa nhân hay thạc sĩ, bởi v́ như nói trên tiến sĩ là những nhà nghiên cứu.  Một số công ti không muốn và không thích mướn những người với văn bằng tiến sĩ cho những việc không dính dáng vào nghiên cứu.  Thêm vào đó là một khi nền kinh tế bị suy yếu, tất cả thành viên trong xă hội đều chịu chung số phận.  Thật vậy, một số công ti giảm thiểu nghiên cứu trước khi giảm thiểu sản xuất, và t́nh trạng này có thể là một mối nguy cơ cho những người có văn bằng tiến sĩ. 

 

·        Học vị tiến sĩ không phải để gây ấn tượng trong gia đ́nh hay bạn bè.  Người thân trong gia đ́nh và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương tŕnh tiến sĩ, bởi v́ họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai.  Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xă hội.  Không phải lúc nào cũng đ̣i người khác phải gọi ḿnh là ông / bà “tiến sĩ”.

 

·        Học vị tiến sĩ không phải là cái cớ để thí sinh thử xem ḿnh thông minh cỡ nào.  Có một vài thí sinh nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi tṛ thách thức xem xem tri thức của ḿnh cỡ nào.  Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi v́ chương tŕnh huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân năo hay để thử khả năng tri thức.  Ngoại trừ thí sinh dành trọn th́ giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ v́ ḿnh “thông minh”.  Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong pḥng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động năo để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

 

·        Học vị tiến sĩ không phải để kiếm nhiều tiền.  Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân b́nh thường trong hăng xưởng.  Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc.  Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu.  Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

 

·        Học vị tiến sĩ không có nghĩa là một lựa chọn tốt nhất trong đời.  Cống hiến cho xă hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn.  Có lẽ thí sinh sẽ ngạc nhiên khi đọc câu phát biểu này, nhưng đó là một thực tế.  Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một sự nguyền rủa!  Thí sinh phải tự hỏi ḿnh muốn làm người lănh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường.  Thí sinh phải biết và quyết định ḿnh muốn ǵ, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích ḿnh nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho ḿnh nhất.

 

Vài điều tích cực về tiến sĩ

 

Mặc dù những cảnh báo trên là hoàn toàn sự thật và có thể xảy ra cho thí sinh, nhưng tôi phải công bằng mà nói rằng cũng có một vài “an ủi” cho thí sinh nào cảm thấy ḿnh có đủ khả năng và đức tính để theo học tiến sĩ.  Thứ nhất, thí sinh có thể tự hào rằng ḿnh đă hoàn tất chương tŕnh học, hoàn tất nghiên cứu, và được trao văn bằng tiến sĩ.  Nếu thí sinh có khả năng và đam mê, sự nghiệp nghiên cứu khoa học có thể đem lại cho thí sinh nhiều phần thưởng vật chất và tinh thần có giá mà các ngành nghề khác không có được. 

 

Thứ hai, trong khi theo học tiến sĩ hay sau khi tốt nghiệp, thí sinh có thể sẽ gặp gỡ và làm việc với những người thông minh nhất trên hành tinh này.  Thí sinh sẽ tiếp cận và tiến dần đến những lí tưởng và ư tưởng không nằm trong tầm tay của ḿnh, và để làm việc đó, thí sinh sẽ cảm thấy tri thức ḿnh trưởng thành thêm.  Thí sinh sẽ giải quyết nhiều vấn đề ḿnh chưa bao giờ gặp trước đó.  Thí sinh sẽ khám phá các khái niệm chưa bao giờ được nghe đến.  Thí sinh sẽ phát hiện những nguyên lí có thể làm thay đổi xă hội và con người.

 

Thứ ba là lí tưởng sống của người làm nghiên cứu khoa học rất có ư nghĩa.  (Tôi có thể nói lại câu này mà không sợ bị chê là “nói ngoa”.)  Nói về niềm hân hoan trong nghiên cứu, có một “chân lí” mà có lẽ bất cứ nhà khoa học nào cũng đồng ư: trong các hoạt động của con người nghiên cứu khoa học là lẽ sống có ư nghĩa nhất.  Tại sao nhà khoa học phải tiêu ra nhiều giờ trong pḥng nghiên cứu, mài ṃ sách vở, bận tâm với từng con số, quan tâm đến từng biểu đồ, trong khi họ có thể tiêu th́ giờ với gia đ́nh để làm cỏ trong vườn, hay tiêu ra th́ giờ với bè bạn trong quán cà phê, quán nhậu ?!  Đúng là nhà khoa học cũng có thể có một cuộc sống gia đ́nh như hàng triệu triệu người khác, tức là làm những việc trong gia đ́nh như bao nhiêu người khác trên thế giới này, nhưng cái khác nhau là thay v́ làm những việc đó, nhà khoa học có thể làm việc trong một pḥng thí nghiệm, trong pḥng máy tính, trong thư viện, bên giường bệnh với bệnh nhân, hay thậm chí trong chuồng … chuột, v.v… nơi mà họ có thể khám phá những điều thú vị nhất trên đời mà chưa có người nào biết đến.  Có thể nói nghiên cứu khoa học là một niềm vui tuyệt đối.  C̣n ǵ vui hơn khi khám phá của ḿnh đem lại lợi ích cho hàng triệu người trên thế giới, như khám phá vi khuẩn H. pylori của giáo sư Marshall, người vừa được giải Nobel y học vừa qua. 

 

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xă hội.  Bằng cấp không phải dùng để đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa bảng rất tương đối.  Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như tiến sĩ, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó chưa nói đủ về khả năng chuyên môn của nhà khoa học.  Tương tự, một học hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại.  Người trí thức chân chính chỉ nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.


HỆ THỐNG PHẦN MỀM QUẢN LƯ BỆNH VIỆN


HT MEDSOFT

 

BS PHAN XUÂN TRUNG

"Lăng tử giữa thương trường"


 WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.



Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET 2005

ASP.NET - Unicode - Web based
HIS - RIS/PACS - LIS - DIS - HL7 - DICOM - IDC10
E-prescribing
E-Patient-Record

QUẢN LƯ CHUYÊN MÔN

Quản lư viện phí

Toa thuốc thông minh

Chẩn đoán h́nh ảnh

Quản lư xét nghiệm

Bệnh án điện tử

Quản lư dược bệnh viện

Quản lư quầy thuốc tây

QUẢN LƯ HÀNH CHÁNH

QL nhân sự - tiền lương

QL vật tư - trang thiết bị

QL tài chánh - kế toán

Báo cáo - giám sát

 

 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000 - Năm thứ Tư.

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

 In trang này     Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net