Khoa học và ngụy
khoa học:
- Một vài đặc điểm và khác
biệt cần biết
Nguyễn Văn Tuấn
Việc
ứng dụng các nguyên lí khoa học vào mục tiêu cải thiện cuộc sống của con người
có một lịch sử lâu dài. Dấu vết của ứng dụng khoa học trong đời sống con người
có thể t́m thấy trong nền văn minh Lưỡng hà, tức khoảng 4500 năm trước đây, khi
mà người Sumerian sáng tạo ra chữ viết, toán học, lịch, và thiên văn học để cải
tiến nông nghiệp, chính trị, và tôn giáo. Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp
khoa học vào đời sống con người chỉ thực sự phát triển mạnh kể từ thế kỷ 14 trở
đi. Có thể gọi đó là một thời kỳ cách mạng khoa học. Nói "cách mạng" cũng không
ngoa, bởi v́ các tư tưởng khoa học đă giải phóng con người khỏi những tăm tối
(Dark Age), ở thời kỳ mà các ư thức hệ tôn giáo mộng mị thống trị niềm tin của
con người qua hàng ngàn năm. Cho đến nay, ai cũng phải công nhận rằng chính khoa
học xây dựng nên thế giới hiện đại. Khoa học cho chúng ta xe ô-tô, xe tăng, máy
bay, điện lực, điện thoại, máy điện toán (computers), liên mạng (internet),
v.v.. Khoa học giúp cho con người du hành vào mặt trăng. Khoa học góp phần làm
tăng tuổi thọ của con người và con người sống lâu gấp hai lần so với 150 năm
trước đây. Danh sách này có thể c̣n dài, nhưng thiết tưởng những lợi ích của
khoa học như thế cũng đủ để thấy sự đóng góp của khoa học vào xă hội cực kỳ to
lớn, và nó là một bộ phận không thiếu được trong xă hội hiện đại.
Trong những năm gần đây người ta
thấy những thông tin liên quan đến khoa học (hay với danh nghĩa khoa học) và y
khoa nói riêng xuất hiện trên báo chí và hệ thống truyền thông đại chúng với một
tần số cao chưa bao giờ thấy trước đó. Hầu như hàng ngày, công chúng được cung
cấp hàng chục bản tin về một khám phá mới nhất, hay một phát hiện có tầm cỡ, hay
một thuật chữa trị tân tiến, hay một con số làm sửng sốt đến cả những người thờ
ơ với khoa học. Nhiều khi, các bản tin được truyền đi với vài thay đổi về những
chi tiết nhỏ, hay thậm chí những chi tiết mang tính đối nghịch nhau. Những mâu
thuẫn như thế tăng theo cấp số nhân và cường độ xuất hiện của những bản tin như
thế cao đến nổi người ta khó mà phân biệt được đâu là thật và đâu là giả. Nhiều
khi người ta chỉ xuôi tay theo một vơ đoán. V́ thế sự dồi dào của thông tin trên
h́nh thức thực ra có thể lại là một sự nghèo nàn thông tin về bản chất.
Những loại thông tin sai lạc, huyễn
hoặc đă và đang xâm chiếm vào xă hội, và có cơ may biến thành một loại "tôn
giáo" mới, và chúng có thể làm cho người ta lẫn lộn giữa sự thật và hoang đường,
giữa thực tế và mộng mị, giữa cái khả dĩ và cái không tưởng. Thực vậy, từ tôn
giáo, thần thoại, dị đoan, chủ nghĩa thần bí, những niềm tin về Thời đại Mới
(New Age), đến những tin tưởng vô lí đă và đang có mặt trong mọi thành phần xă
hội. Có người sẽ nghĩ là những chuyện như thế là thuộc về thời Trung cổ, nhưng
những con số thống kê gần đây cho thấy, những niềm tin phi khoa học như thế đang
phát triển mạnh trong thế kỷ 20 và có thể cả thế kỷ 21. Một cuộc thăm ḍ ư kiến
trong 1236 người Mỹ do hăng Gallup tổ chức năm 1990 cho thấy: 52% người tin vào
thuật chiêm tinh, 46% tin vào tri giác ngoại cảm (ESP), 22% tin rằng có người từ
một hành tinh khác ghé thăm trái đất, 42% tin rằng con người có thể liên lạc với
người chết, 35% người tin rằng có quỉ, và 67% có kinh nghiệm siêu linh.
Một mẫu số chung của những thông
tin loại này là những người sản sinh ra chúng thường hay dựa, hay nhân danh, vào
hai chữ "khoa học". Hai chữ "khoa học" thường nhận được nhiều sự kính mến trong
công chúng. Ngay cả những người dù không am hiểu nhiều về khoa học cũng thấy có
một cái ǵ đó đặc biệt trong khoa học và phương pháp khoa học. Chỉ cần đặt hai
chữ "khoa học" vào trước một lời phát biểu hay một lí lẽ là người ta cảm nhận
ngay rằng đây là những phát biểu hay lí lẽ có thể tin cậy được. Một quảng cáo về
một sản phẩm nào đó cho rằng đă được kiểm chứng bằng khoa học và cho thấy sản
phẩm này tốt hơn các sản phẩm đang bày bán. Điều này ám chỉ rằng quảng cáo này
đáng tin cậy, không c̣n bàn căi ǵ thêm cả. Gần đây, một quảng cáo khác cho rằng
các nhà khoa học tin tưởng rằng những ǵ viết trong Kinh Thánh là sự thật! Điều
này hàm ư cho rằng nhà khoa học có uy tín và thẩm quyền trong việc thẩm định giá
trị của Kinh Thánh.
Vấn đề được đặt ra là những câu hỏi
tại sao: tại sao lại có những mâu thuẫn trong các thông tin liên quan đến khoa
học; tại sao người ta lại tin vào những điều càn rỡ, quái đảng, phi lí; tại sao
người ta lại tin vào những lí lẽ mà tên gọi của chúng thường được nhét vào hai
chữ khoa học đằng trước? Trả lời những câu hỏi này không phải là một việc dễ
dàng, v́ có nhiều nguyên nhân cho hiện tượng trên. Nhưng một trong những nguyên
nhân đó là sự lạm dụng khoa học, và nhất là t́nh trạng lẫn lộn giữa khoa học
(science) và ngụy khoa học (pseudoscience). Đến đây th́ câu hỏi được đặt ra: thế
nào là khoa học và thế nào là ngụy khoa học?
Nói một cách ngắn gọn, khoa học là
tập hợp những phương pháp trí tuệ và phương pháp thực tiễn dùng để diễn tả và
giải thích những hiện tượng quan sát được hay suy đoán được, trong quá khứ hay
hiện tại, nhằm xây dựng một hệ thống tri thức mà chúng ta có thể bác bỏ hay xác
nhận được. Khoa học là một phương pháp suy nghĩ và hành động nhằm vào mục đích
hiểu và cảm nhận được thế giới chung quanh một cách trực tiếp hay gián tiếp, quá
khứ hay hiện tại. Những phương pháp trí tuệ bao gồm linh cảm, ước đoán,
tư tưởng, giả thuyết, lí thuyết, và mô h́nh. Những phương pháp thực tiễn
bao gồm bối cảnh của nghiên cứu, thu thập dữ kiện, hệ thống hóa dữ kiện, cộng
tác cùng đồng nghiệp, thí nghiệm, t́m ṭi và khám phá, phân tích thống kê, viết
báo cáo khoa học, tŕnh bày trong các hội nghị khoa học, và công bố kết quả
nghiên cứu.
Khoa học dựa vào sự thật (facts).
Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan.
Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ
không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Điều quan trọng và
cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến
vấn đề đang được điều tra. Những sự thật này phải được thu thập (i) có tổ chức,
trực tiếp, và khách quan; (ii) độc lập với lí thuyết; và (iii) một cách tin cậy
để làm nền tảng cho suy luận.
Tuy nhiên, cũng như mọi hiện tượng
khác, phát triển của khoa học thường phải đi đôi với một phong trào khoa học giả
tạo, hay ngụy khoa học. Ngụy khoa học cũng giống như ngụy biện, tức là những
phát biểu của ngụy khoa học thường là những lí lẽ mà bề ngoài xem ra có vẻ đúng,
hợp lí, nhưng sự thật là sai, để rút ra những kết luận xuyên tạc sự thật.
Thực ra, đối với giới chuyên môn và
khoa bảng, họ không quan tâm đến ngụy khoa học v́ họ cho đó là những tṛ chơi
giải trí, và họ xem những người làm việc theo ngụy khoa học là những diễn viên
múa rối lố bịch có chức năng chính là đóng hài kịch cho xă hội mua vui. Nhưng
thiết tưởng đó là một thái độ thụ động, và hậu quả có thể rất xấu, v́ ngụy khoa
học có thể trở nên cực kỳ nguy hiểm. Trong quá khứ, ngụy khoa học đă từng xâm
nhập vào chính trị và gây ra nhiều cuộc tàn sát đẩm máu (như trong thời Hitler
và thuyết siêu chủng tộc). Ngụy khoa học c̣n có thể xâm nhập vào học đường và có
thể làm băng hoại con em chúng ta. Ngụy khoa học, v́ tính đơn giản của nó, c̣n
làm cho chúng ta trở nên nô lệ với những cái tầm thường.
V́ thế một trong những kỹ năng của
một công dân trong xă hội dân chủ hiện đại là cần phải phân biệt đâu là những
giá trị thuộc về khoa học và đâu là những giá trị thuộc phạm trù ngụy khoa học.
Vả lại, một công chúng hiểu biết khoa học và công nghệ, cùng với những hạn chế
và ư nghĩa của khoa học, sẽ là một lực lượng hùng hậu để bẻ gẫy những ngụy biện
của giới ngụy khoa học. Nhưng làm thế nào để phân biệt được khoa học với ngụy
khoa học? Việc trước tiên là chúng ta phải định nghĩa thế nào là khoa học chân
chính (mà trong bài viết này sẽ đề cập là "khoa học"). Trong quá khứ đă có quá
nhiều học giả viết và tranh luận về một truyền thống văn hóa mà người ta gọi là
khoa học. Những tác giả lừng danh như Eddington, Popper, Kuhn, Cohen, Losee,
Woolgar ... đă từng viết nhiều về lịch sử và đặc tính của khoa học. Ở đây, người
viết bài này không muốn lập lại những điều đă có trong sách giáo khoa, mà chỉ
muốn đưa ra một vài đặc tính mà ai cũng có thể nhận thấy được thế nào là khoa
học và thế nào là ngụy khoa học.
Nhận dạng là phương cách xác thực
nhất để phân biệt khoa học với nguỵ khoa học, nhận dạng càng nhiều càng tốt,
những ǵ thực và đối chiếu với những ǵ giả tạo. Khi người phát biểu nói "biết
khoa học", điều này không có nghĩa là người đó chỉ biết những dữ kiện khoa học
(ví dụ như khoảng cách giữa trái đất và mặt trời, tuổi của trái đất, phân biệt
giữa loài động vật có vú và loài ḅ sát, v.v.), mà phải biết về bản chất của
khoa học, tức là những tiêu chuẩn về bằng chứng, kế hoạch tiến hành một thí
nghiệm có ư nghĩa, xem xét và cân nhắc những t́nh huống khác nhau, việc thử
nghiệm giả thuyết, củng cố hay đề ra một lí thuyết, v.v. Nói tóm lại là biết
những khía cạnh về phương pháp khoa học mà các nhà khoa học dùng chúng để rút ra
những kết luận chính xác, đáng tin cậy, và có ư nghĩa về những hiện tượng chung
quanh chúng ta.
Do đó, cần phải xem xét những dấu
ấn của ngụy khoa học. Sự vá lấp những sự thật bằng những điều huyễn hoặc và vô
duyên là những điều rất dễ dàng nhận dạng. Trong quá khứ, đă có nhiều người viết
về những đặc tính của ngụy khoa học để cảnh báo học sinh và sinh viên, nhưng
thiết tưởng trong các tác giả đó, Tiến sĩ Rory Coker, giáo sư Vật lí thuộc
Trường Đại học Texas (Austin), là một trong những người đă làm một cách đầy đủ
nhất. Trong một bài viết ngắn, "Distinguishing science and pseudoscience", Giáo
sư Coker đă thống kê những đặc điểm của ngụy khoa học một cách xúc tích nhưng dễ
hiểu. Bài viết này, một phần lớn, dựa vào những ư của Giáo sư Coker, nhưng thêm
vào đó là những nhận thức riêng của người viết qua kinh nghiệm cá nhân.
Cần nói thêm là những đặc tính của
ngụy khoa học được tŕnh bày dưới đây không phải là một danh sách đầy đủ, nhưng
ít ra chúng ta cũng có một ư niệm khá rơ ràng về giới làm công tác khoa học. Nếu
một hay một số đặc tính này hiện diện trong bất cứ một tài liệu nào th́ đó là
triệu chứng của ngụy khoa học. Mặt khác, nếu một tài liệu không có những đặc
tính đó vẫn có thể là một ngụy khoa học, bởi v́ nhà ngụy khoa học có thể đă sáng
chế ra một cách thức mới để lường gạt chính họ. Những đặc tính dưới đây là một
số điều kiện đủ, hơn là những điều kiện cần, để nhận diện ngụy khoa học.
-
Thứ nhất, giới ngụy khoa học
thường có khuynh hướng lănh đạm, thờ ơ trước sự thật và cơ sở lập luận.
Chúng ta biết rằng những nhà viết tiểu thuyết hay sáng chế ra những "sự thật
ma" – những "sự thật" mà Norman Mailer gọi một cách dí dỏm và văn chương là
"factoid" (tức giống-sự-thật), mà không cần phải đi đâu xa để t́m hiểu thực
tế ra làm sao. Ấy thế mà cái cách làm việc của những nhà viết tiểu thuyết đó
lại được giới làm ngụy khoa học trân trọng. Nhà ngụy khoa học chẳng cần tốn
công đi vào thực tế để thu thập dữ kiện (data) thật mà chỉ đưa ra những dữ
kiện ma, và từ đó đúc kết thành kết luận. Một khi đă có kết luận, họ cũng
chẳng cần phải duyệt lại kết luận đó đúng hay sai. Các sách về khoa học luôn
luôn được cập nhật hóa đều đặn, chiếu theo những dữ kiện mới; ngược lại sách
của giới ngụy khoa học th́ chẳng bao giờ thay đổi, cứ hết tháng này sang năm
nọ, vẫn những dữ kiện ma, vẫn những kết luận cứng như đá.
-
Thứ hai, những "nghiên cứu"
ngụy khoa học hầu như lúc nào cũng mang tính rời rạc, chấp nối. Tức là,
nhà ngụy khoa học chỉ cắt xén một mớ bản tin trong các tờ báo dành cho công
chúng, thu thập những tin đồn, đọc những tài liệu ngụy khoa học khác, hay
trích dẫn từ kinh thánh hay những chuyện thần thoại. Họ cũng chẳng thèm tốn
công kiểm tra nguồn gốc và tính chính xác của tài liệu mà họ dùng. Nhà ngụy
khoa học hầu như không bao giờ làm những cuộc điều tra khoa học cho có hệ
thống và độc lập trước khi kết luận, mà thường hay kết luận trước khi thu
thập dữ kiện.
-
Thứ ba, giới làm ngụy khoa
học thường bắt đầu bằng một giả thuyết cảm tính, hay một giả thuyết có
thể làm hấp dẫn và kích động công chúng. Rồi từ đó, họ t́m những tin tức, dữ
kiện – bất cứ dữ kiện nào – để làm nền tảng cho niềm tin của họ. Họ sẵn sàng
bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ. Nói rơ hơn, giới
làm ngụy khoa học cố gắng hợp lí hóa những niềm tin của họ, chứ không màng
đến những điều tra và t́m hiểu sự kiện một cách nghiêm túc, và cũng chẳng
cần phải cân nhắc những t́nh huống khả dĩ khác nhau. Giới làm ngụy khoa học
rất thiếu kiên nhẫn, lúc nào họ cũng nhấp nhỏm nhảy đến kết luận mà họ đă có
sẵn từ trước, và sẵn sàng nghiền nát những trục ư thức hệ khác ḿnh.
-
Thứ tư, ngụy khoa học hoàn
toàn không quan tâm đến những tiêu chuẩn về bằng chứng. Đối với giới làm
ngụy khoa học, họ không cần biết và chẳng cần làm những thử nghiệm có ư thức
và có phương pháp để thu thập dữ kiện; thay vào đó, họ dựa vào những nguồn
tin không ai kiểm chứng được, những đồn đại, những câu chuyện không có nguồn
gốc rơ ràng, và giai thoại mơ hồ. Họ không muốn và ít khi nào đề cập đến
những tài liệu khoa học xác thực trong các tập san khoa học chuyên môn. Nói
chung, giới làm ngụy khoa học không bao giờ trưng bày những bằng chứng khoa
học với những tiêu chuẩn khắc khe để làm nền tảng cho những phát biểu của
họ.
-
Thứ năm, ngụy khoa học dựa
vào những giá trị chủ quan. Trong mỗi giai đoạn phát triển thế giới, con
người có khuynh hướng thích một phương pháp thu thập kiến thức để t́m hiểu
thế giới chung quanh ḿnh. Có một thời (trước khi khoa học ra đời) người ta
thường hay dựa vào ư kiến của những người có thẩm quyền, như Jesus chẳng
hạn, để giải thích sự kiện. Ngày nay, phương pháp thông dụng nhất, ít ra là
trong thế giới văn minh, là phương pháp khoa học, và theo phương pháp này,
người ta chỉ có thể phán xét dựa vào dữ kiện được thu thập một cách khách
quan. Ông Nguyễn xức dầu lên đầu và hết nhức đầu. Đối với ngụy khoa học, dầu
đó có công hiệu chữa chứng nhức đầu. Đối với khoa học, sự kiện trên không có
ư nghĩa ǵ cả, bởi v́ đó không phải là một thử nghiệm. Có nhiều sự kiện xảy
ra khi ông Nguyễn hết nhức đầu: trăng tṛn, một con chim bay ngang đầu, cửa
sổ mở, ông Nguyễn mặc áo màu đỏ, v.v. – và chứng nhức đầu của ông Nguyễn
chắc sẽ tự nhiên hết mà không có một sự kiện ǵ ảnh hưởng cả. Một cuộc thử
nghiệm lâm sàng có thể sẽ phân chia những bệnh nhân bị chứng nhức đầu thành
hai nhóm (một được điều trị bằng thuốc A và một nhóm không được điều trị)
nhưng trong cùng hoàn cảnh, và thu thập dữ kiện để so sánh.
-
Thứ sáu, ngụy khoa học đơn
giản hóa vấn đề đến một độ ngớ ngẩn. Đối với họ, những lí thuyết không
có giá trị v́ lí thuyết thường phức tạp và trừu tượng mà họ có khi không
cách ǵ hiểu được. Thành ra, họ t́m mọi cách đơn giản hóa vấn đề thành những
trắng/đen, có/không, đúng/sai, bạn/thù, và từ đó khái quát hóa cho xă hội.
Bởi v́ họ chủ trương đơn giản hóa vấn đề, nên giới ngụy khoa học thường dựa
vào những thông tin không đầy đủ về thiên nhiên, hơn là dựa vào những ǵ mà
người ta biết được hiện tại. Một con số ở một vùng cao nguyên Việt Nam có
thể khái quát hóa cho cả nước Việt Nam, và họ hài ḷng với một nhận định như
thế. Họ sẵn sàng tuyên bố những điều giật gân, đề ra những lí thuyết quái dị
trái ngược lại với những ǵ mà chúng ta biết về thiên nhiên. Nếu ông Nguyễn
nh́n thấy một vật lạ bay trên bầu trời mà ông không biết nó là ǵ th́ cách
tốt nhất là ông chỉ phát biểu y như thế. Nhưng đối với ngụy khoa học, họ sẽ
dùng quan sát này của ông Nguyễn để làm bằng chứng cho rằng có những chiếc
máy bay từ hành tinh khác!
-
Thứ bảy, ngụy khoa học không
bao giờ dám đưa những phát biểu của họ vào môi trường thử nghiệm. John
Stuart Mill từng nói "Nếu có một khoa học mà tôi có thể đề xướng, tôi nghĩ
đó là khoa học của khoa học, tức là khoa học nghiên cứu, hay phương pháp."
Phương pháp khoa học ở đây là phương pháp nghiên cứu, thử nghiệm, và suy
luận. Trong khoa học chân chính, mọi lí thuyết, giả thiết, ư kiến đều phải
được thử nghiệm trước khi đưa ra kết luận. Nhưng đối với giới làm ngụy khoa
học, thử nghiệm là một điều xa lạ, họ ít hay không khi nào làm những thí
nghiệm, điều tra cẩn thận, có phương pháp để tự thuyết phục họ. Thay vào đó,
họ thích phớt lờ đi những kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học thật khác
tiến hành. Nếu một nhà ngụy khoa học nhận là đă tiến hành một thử nghiệm,
các nhà ngụy khoa học khác không khi nào lặp lại nghiên cứu đó, nhất là khi
kết quả của nghiên cứu nguyên thủy bị "mất" hay "trong t́nh trạng chất vấn".
Ngay cả chính họ, giới ngụy khoa học, cũng không màng lặp lại thử nghiệm của
chính ḿnh.
-
Thứ tám, ngụy khoa học không
cần biết đến phân tích thống kê. Những sự kiện xảy ra hàng ngày, dù là
bệnh tật, mức độ ô nhiễm môi trường, hay mức độ trồi sụt của thị trường kinh
tế, không bao giờ bất biến, mà luôn thay đổi theo thời gian, theo môi
trường, và các yếu tố ngẫu nhiên. Do đó khi thu thập dữ kiện, người làm khoa
học chân chính phải cân nhắc kỹ càng những khía cạnh như số lượng dữ kiện,
thời gian theo dơi, và những yếu tố liên quan. Một khi đă có những dữ kiện
này, nhà nghiên cứu phải dùng các phương pháp thống kê để phân tích xác định
xem bao nhiêu mức độ biến chuyển của những dữ kiện đó là do các yếu tố ngẫu
nhiên gây nên, và bao nhiêu là do các yếu tố không ngẫu nhiên tạo thành; từ
đó, nhà nghiên cứu mới dám đưa ra một nhận xét hay một kết luận mà các yếu
tố ngẫu nhiên đă được loại bỏ. Nhưng đối với những người hành nghề ngụy khoa
học, chỉ một bằng chứng là đủ, không cần phải thu thập thêm bằng chứng; hay
có thu thập thêm, nhưng họ không màng đến phân tích dữ kiện bằng các phương
pháp toán học và thống kê học, v́ họ cho rằng những phương pháp này quá …
phức tạp. Thực ra, họ cũng chẳng biết đến những nguyên tắc để thẩm định dữ
kiện, nên nếu vớ được một mẫu tin nào là dùng ngay mà không cần xem xét nó
đúng hay sai.
-
Thứ chín, ngụy khoa học
thường thích dựa vào ư kiến của những người mà họ cho là có thẩm quyền
(trong tiếng Anh cái này gọi là "appeal to authority"). Trong khoa học chân
chính, trích dẫn ư kiến người khác hay tham khảo tài liệu nghiên cứu của
những người đi trước là nhằm tạo thêm nền tảng cho lập luận, để so sánh và
cân nhắc, và ghi nhận đóng góp của họ. Nhưng trong giới ngụy khoa học, việc
trích dẫn thường được lạm dụng như là một sự đe dọa, một loại lạm dụng quyền
lực. Một người học về kỹ thuật cũng có thể chấp nhận là một chuyên gia trong
y học, nghiên cứu khoa học. Nếu bí quá không có bằng chứng ǵ rơ ràng, giới
ngụy khoa học bèn giải thích bằng những âm mưu huyền bí nào đó. Tại sao Giáo
sư A không bàn về đề tài X nhỉ? À, theo giới ngụy khoa học, v́ ông ta đồng
loă với chính quyền để dấu nhẹm vấn đề! Nhưng họ không cần biết Giáo sư A
không phải là chuyên viên về đề tài X. Một cách suy bụng ta ra bụng người!
-
Thứ mười, ngụy khoa học có
xu hướng giải thích theo kiểu "tùy cơ ứng biến." Bởi v́ giới làm ngụy
khoa học không bao giờ phát triển được một lí thuyết có nền tảng dựa vào sự
thật, tiêu chuẩn, nên họ luôn diễn dịch sự kiện tùy theo từng hoàn cảnh và
thậm chí theo từng nền văn hóa. Một câu nói trong Kinh Thánh có thể được
diễn dịch tùy theo người muốn hiểu nó, và áp dụng tùy theo trường
hợp. Một con số 9/11 ở Mỹ có thể diễn dịch thành 11/9 ở Âu châu hay Úc châu
để cho ra những suy luận càn rỡ, huyền bí về khủng bố. Ngoài ra, giới ngụy
khoa học chỉ cho chúng ta một câu chuyện, và chỉ là một câu chuyện; họ không
mô tả những tiến tŕnh khả dĩ cho câu chuyện. Ví dụ như nhà ngụy khoa học
Velikovski tuyên bố rằng một hành tinh khác đang tiến gần đến trái đất và sẽ
làm cho trái đất đảo ngược, nhưng ông ta không giải thích tại sao.
Từ những đặc điểm trên, người ta có
thể rút ra một số khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học như sau:
|
Khoa học |
Ngụy khoa
học |
|
Tất cả
những phát hiện, khám phá của khoa học được lưu truyền chủ yếu trong các
tập san chuyên khoa, những tập san này được giới chuyên môn quản lí và
điều hành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều
được qua ít nhất là ba đồng nghiệp kiểm tra về sự chính xác và phương
pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học, do đó phẩm chất của chúng khá cao
và đáng tin cậy. |
Tài liệu
của ngụy khoa học chủ yếu nhắm vào công chúng. V́ nhắm vào công chúng
nên giới ngụy khoa học thường đăng bài ở những tạp chí dành cho người
không chuyên môn, và do đó, bài báo không có kiểm tra về phương pháp hay
tính chính xác. |
|
Mọi
kết quả nghiên cứu đều phải có khả năng tái xác nhận. Nói một cách khác,
giả sử
có một nghiên cứu đă được công bố bởi một nhà khoa học nào đó; nếu một
nhà nghiên cứu khác lặp lại nghiên cứu đó bằng những phương pháp và với
điều kiện đă được mô tả, phải đạt được những kết quả tương tự. |
Kết quả
không có khả năng lặp lại hay kiểm tra. Mọi "nghiên cứu," nếu có, thường
được mô tả một cách mù mờ, ỡm ờ, để cố t́nh không cho người khác biết rơ
là họ đă làm ǵ và làm bằng cách nào. |
|
Đối với các
nhà khoa học, tất cả những thất bại đều được khai thác, xem xét kỹ lưỡng
để học hỏi từ đó. Những lí thuyết sai lầm có thể cho ra những kết quả
đúng nhưng ngẫu nhiên; tuy nhiên, không một lí thuyết đúng nào có thể
cho ra những kết quả sai lầm. |
Đối với
giới làm ngụy khoa học, những thất bại thường được bỏ qua, dấu đi, hay
chối bỏ. |
|
Thuyết phục
bằng bằng chứng, bằng lí luận dựa vào logic hay lập luận của toán học,
bằng cách dựa vào dữ kiện, không đi ra ngoài dữ kiện. |
- Thuyết phục bằng niềm
tin và sự trung thành. Ngụy khoa học có một yếu tố tôn giáo; nó cố
gắng cải đạo, chứ không thuyết phục. Nó đ̣i hỏi người ta phải tin,
mặc kệ cho sự thật có đi ngược lại niềm tin.
|
- Theo thời gian, các
nhà khoa học t́m ṭi và học hỏi thêm và duyệt lại những kết luận hay
lí thuyết cũ. Một khi bằng chứng mới mâu thuẫn với bằng chứng cũ,
bằng chứng cũ sẽ bị thay thế.
|
Không tiến
bộ, lí thuyết và kết luận không bao giờ được thay đổi. Ư tưởng cũ không
bao giờ được bỏ bất kể bằng chứng mới ra sao. |
|
Không nhắm
vào danh vọng và thị trường kinh tế hay chính trị. |
Giới ngụy
khoa học sống nhờ vào việc buôn bán những sản phẩm đáng ngờ (sách, báo,
dầu ăn, v.v.) hay xuất hiện trên đài phát thanh, đài phát h́nh để t́m
đến danh vọng và ủng hộ chính trị. |
Danh sách so sánh này có thể c̣n
kéo dài vô tận, bởi v́ giữa khoa học và ngụy khoa học không có một điểm nào
tương đồng với nhau, nó giống như hai con đường song song không bao giờ gặp
nhau. Trong việc t́m hiểu và học hỏi về thiên nhiên, khoa học và ngụy biện khoa
học là hai phương pháp đối nghịch nhau. Khoa học đ̣i hỏi những phương pháp t́m
hiểu nghiêm túc, có tŕnh tự, khó khăn, tự chất vấn, và suy luận theo logic,
theo lí trí, và đạo đức khoa học làm cho nhà khoa học rất khó bị nhầm lẫn trước
sự thật. Ngụy khoa học th́ ngược lại, luôn luôn ǵn giữ những giá trị lỗi thời,
phi lí, chủ quan, và phi đạo đức khoa học hàng ngàn năm trước khi khoa học ra
đời. Ngụy khoa học khuyến khích người ta tin vào bất cứ cái ǵ mà người ta cảm
thấy cần phải tin. Ngụy khoa học sẵn sàng cung cấp những "bằng chứng" cho những
tín đồ như thế để họ lầm tưởng rằng niềm tin của họ là khoa học, là chân lí.
Khoa học bắt đầu bằng một phát biểu đơn giản là "Hăy bỏ qua và quên hết những ǵ
chúng ta tin tưởng vào, và cố gắng điều tra, t́m hiểu xem sự thật là ǵ."
Một số nhầm lẫn giữa khoa học và
ngụy khoa học c̣n do sự nhập nhằng về danh xưng của người làm khoa học. Một khi
một nhà khoa học thật sự không c̣n làm nghiên cứu khoa học nữa, ông/bà ta sẽ
không c̣n là "nhà khoa học". T́nh trạng khốn nạn hiện nay là lưu lượng những
cuốn sách, những bài báo, những tuyên bố dựa vào khoa học giả tạo tràn ngập thị
trường chữ nghĩa. Một số tác giả của những "tác phẩm" này lại là những nhà khoa
học thật. Tuy nhiên họ lại "nhảy rào" sang một lĩnh vực nghiên cứu khác mà họ
chưa từng được huấn luyện hay không có kiến thức sâu. Chẳng hạn như nếu một kỹ
sư điện tuyên bố rằng ông đă t́m ra mối quan hệ giữa dioxin và sức khỏe th́
người kỹ sư đó đă làm ngụy khoa học. Tương tự, những người sáng chế dữ kiện giả,
những người dấu số liệu không phù hợp với quan điểm của họ, những người từ chối
không cho người khác xem xét số liệu của ḿnh, v.v. cũng là những nhà ngụy khoa
học.
Trong cộng đồng chúng ta, ngụy khoa
học cực kỳ phổ biến. Chỉ cần nh́n qua những mẫu quảng cáo trên báo chí và đài
truyền thanh hay truyền h́nh tiếng Việt về các sản phẩm được viết bằng những mỹ
từ hứa hẹn trị đủ thứ bệnh tật từ ung thư, tiểu đường, bệnh tim mạch, đến nâng
cao khả năng t́nh dục th́ ai cũng biết vấn đề này lớn biết là dường nào. Ngoài
những quảng cáo ngớ ngẩn như thế, c̣n có một ngụy khoa học khác, tinh vi hơn,
được xuất hiện qua những lời tuyên bố, phát biểu mà tác giả của chúng thường
được trịnh trọng giới thiệu là những "nhà khoa học". Những "nhà khoa học" này có
khi rất nổi tiếng trong cộng đồng, không hẳn v́ họ có thực tài, mà v́ họ biết
lợi dụng hệ thống truyền thanh để đánh động vào công chúng những điều đơn giản,
dễ nghe, và dễ xúc động. Công chúng sẽ rất thờ ơ trước một phát hiện mới về DNA
hay di truyền học, nhưng họ sẽ đặc biệt chú tâm đến những lời phát biểu về ô
nhiễm thực phẩm, hay những tuyên bố giật gân kiểu như chúng ta đang bị đầu độc.
Những con số thống kê được trích dẫn càng làm tăng vẻ đạo mạo của khoa học trước
một khán thính giả mà khả năng cảm nhận của họ về những con số này chưa chắc hơn
khả năng của chính người trích dẫn.
Trong những ngày gần đây, dự luận
trong cộng đồng người Việt hải ngoại rất quan tâm đến những phát biểu của hai
ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang chung quanh vấn đề thực phẩm Việt Nam
và dioxin. Trong báo Orange County Register, hai ông tuyên bố rằng thực phẩm
nhập cảng từ Việt Nam bị nhiễm độc chất, nhưng trong báo chí Việt ngữ hai ông từ
chối rằng đó không phải là lời phát biểu của hai ông mà chỉ là một hiểu lầm của
kư giả. Tuy nhiên báo Orange County Register vẫn chưa có lời đính chính. Trong
một bài viết trên nhật báo Người Việt và cũng là một trả lời cho những
chất vấn của tôi liên quan đến vấn đề này, hai ông đă trích dẫn một số số liệu
thiếu trung thực, và hiểu lầm các dữ kiện khoa học. Tuy nhiên, điểm qua một số
bài "nghiên cứu" mà hai ông đề nghị người đọc nên tham khảo trên trang nhà
(webpage) của Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam (www.vastvn.org),
và những trao đổi với người viết bài này trước công chúng, tôi thấy có một vài
đặc điểm đáng chú ư:
-
Thứ nhất, hai ông chưa bao giờ
tiến hành những cuộc nghiên cứu nghiêm túc ở Việt Nam để thu thập đầy đủ
bằng chứng, nhưng lại hăng hái phát biểu về môi trường Việt Nam. Đọc qua
những bài viết của hai tác giả này, chúng ta thấy họ dựa vào, một phần rất
lớn, các bản tin rời rạc từ báo Lao Động, hay Nhân Dân, xuất
bản ở Việt Nam và có trên internet (www.laodong.com.vn
hay www.nhandan.org.vn) để làm dữ
kiện. Họ hầu như không tham khảo những nghiên cứu về dioxin ở Việt Nam trong
các tạp chí y học hiện đang được lưu hành trong mọi thư viện đại học, hay có
tham khảo nhưng hiểu sai ư chính của bài viết. Tất nhiên, những tin tức trên
những tờ báo như thế không thể là bằng chứng khoa học, v́ chưa ai xác định
được sự chính xác của những tin tức đó như thế nào. Các kư giả không phải là
nhà khoa học chuyên nghiệp, nên họ không đủ khả năng để kiểm chứng số liệu
khoa học.
Ngay cả khi đưa ra những con số để
biện minh cho niềm tin của ḿnh, hai ông hầu như chỉ dựa vào những nghiên cứu sơ
bộ. Thật vậy, những con số thống kê của công ty Hatfield (Canada), của Tiến sĩ
Nguyễn Đ́nh Quang (Hà Nội) không phải là những nghiên cứu chính thức có qui mô
để dùng được cho việc nhận định hay h́nh thành một quan điểm. Những nghiên cứu
như thế có mục tiêu chính là làm cơ sở để thiết kế một nghiên cứu qui mô hơn,
hay để thẩm định xem một nghiên cứu lớn hơn có thể tiến hành được hay không.
Chẳng hạn như một nghiên cứu sơ bộ mà một nhà khoa học Việt Nam và một nhà khoa
học Thụy Điển mới vừa công bố (Impact of chemical warfare with agent orange
on women's reproductive lives in Vietnam: a pilot study, đăng trong Tập san
Reprod Health Matters năm 2001; số 9(18), trang 156-64), họ cho thấy
trong 30 gia đ́nh mà họ nghiên cứu, tỉ lệ trẻ em bị dị tật, tỉ lệ sẩy thai, sinh
sớm (premature births) trong những người cha hay mẹ bị ảnh hưởng Agent Orange
cao (nguyên văn: "The women had had a high number of miscarriages and premature
births. About two-thirds of their children had congenital malformations or
developed disabilities within the first years of life.") Có thể lấy nghiên cứu
này để cho rằng Agent Orange có liên quan đến những bệnh tật hay triệu chứng
trên đây hay không? Đối với khoa học: không. Lí do đơn giản là đây chỉ là một
nghiên cứu sơ bộ, kết quả của nó không cho phép nhà khoa học khái quát hóa cho
một cộng đồng hay phát triển một thuyết nào cả. Bất cứ ai làm trong nghiên cứu
khoa học đều có cái kiến thức sơ đẳng này.
-
Thứ hai, những bài viết của hai
ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang được quảng cáo như là những
"nghiên cứu khoa học" nhưng trong thực tế th́ không phải như thế. Đọc qua
những bài viết này của hai ông, người đọc sẽ nhận ra ngay một đặc điểm chính
là chúng không tuân thủ theo một cấu trúc thông thường của một bài báo
nghiên cứu khoa học. Có thể nói những bài viết "nghiên cứu khoa học" của hai
ông chỉ là những tạp ghi. Những tạp ghi không có đầu, mà có khi cũng chẳng
có đuôi, làm cho người đọc không hiểu họ viết về vấn đề ǵ và tại sao họ
viết. Tôi sẽ phân tích vấn đề này trong một bài viết khác.
-
Thứ ba, trích dẫn tùy tiện, và
sẵn sàng bỏ qua những bằng chứng nào mâu thuẫn với niềm tin của họ. Trong
một bài viết trước, tôi đă chỉ ra cách trích dẫn một cách chọn lựa những con
số trong bài báo của Giáo sư Morcacelli để biện minh cho ư kiến rằng dioxin
không có ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh trai:gái (1). Ngay cả những con số và biểu
đồ mà hai ông trích lại đăng trên các bài viết của ḿnh, hai ông cũng không
màng cung cấp xuất xứ. Một đơn cử nữa về sự tuỳ tiện là trong một bài
"nghiên cứu" khác của ông Mai Thanh Truyết (3) cụm từ "AML- acute
myelogenous leukemia" (nguyên trích) được dịch là "Bệnh bạch cầu cột sống
cấp tính" mà lẽ ra phải là Bệnh bạch cầu cấp thể tuỷ (4). Đây không những là
một cách làm việc hết sức ngụy khoa học mà c̣n thiếu thành thật tri thức.
-
Thứ tư, hai tác giả này tỏ vẻ
rất dễ dăi với những bằng chứng của họ, và từ đó có nhận xét sai với thực
tế. Chẳng hạn như trong bài "Dioxin: việc tái thẩm định mức độc hại",
(2) ông Mai Thanh Truyết viết: "Cho đến nay, các khoa học gia vẫn chưa
đồng ư rằng TCDD (hay dioxin) là nguyên nhân gây ra nguy cơ ung thư; và đây
là điểm bất đồng mấu chốt trong vấn nạn dioxins." Đọc câu này, người ta
phải hỏi nếu quả thật chưa đồng ư về tác hại th́ sao lại là "vấn nạn" nhỉ?
Nó c̣n biểu hiện một cách phát biểu đơn giản: có nhiều dạng ung thư, vậy th́
câu phát biểu trên đề cập đến loại ung thư nào? Sự thật là các nhà nghiên
cứu (5) đă có đầy đủ bằng chứng khoa học để kết luận rằng dioxin trực tiếp
gây ra các bệnh sau đây: Soft-tissue sarcoma, Non-Hodgkin's lymphoma, bệnh
Hodgkin, và bệnh ban clor (chloracne). Nhưng họ chưa có đầy đủ bằng chứng để
kết luận về mối quan hệ giữa dioxin và một số bệnh ung thư khác, trong đó có
ung thư hệ thống hô hấp (phổi, thanh quản, khí quản), ung thư tuyến tiền
liệt (prostate cancer), myeloma, một số bệnh thần kinh cấp tính, và bệnh nứt
đốt sống (spina bifida).
-
Thứ năm, v́ thiếu dữ kiện và dễ
dăi với dữ kiện nên những nhận xét của họ thường rất chủ quan, thậm chí phi
logic. Tiêu biểu cho cách làm việc này là bài viết "Kết quả phân tích
nước ở Việt Nam," (2) mà trong đó tác giả viết về kết quả phân tích nước
ở Đồng bằng sông Cửu Long, như sau "Tuy chưa hoàn tất cuộc khảo sát,
nhưng các kết quả phân tích ban đầu cho thấy vùng ĐBSCL đă bắt đầu bị nhiễm
arsenic. Tuy mức độ nhiễm vẫn c̣n nằm trong tiêu chuẩn chấp nhận, nhưng dù
sao sự hiện diện của nguyên tố này là một chỉ dấu báo hiệu cho một thảm nạn
(calamity) sắp xảy ra cho ĐBSCL (nồng độ trung b́nh của arsenic trong các
vùng nầy tương đương với nhau là 10ug/L)." Có lẽ những ai có chút ư thức
sẽ ngạc nhiên về cách nhận xét cực kỳ cảm tính và thiếu bằng chứng này.
Những mệnh đề bắt đầu bằng "Tuy" và "nhưng" nó c̣n cho thấy tác giả cực kỳ
chủ quan. Kết quả phân tích chưa xong, mức độ c̣n nằm trong "tiêu chuẩn chấp
nhận" (là bao nhiêu?) và chưa biết chính xác cỡ nào mà đă hô hoán là "thảm
nạn"! Thật là không c̣n ǵ phi lí hơn.
-
Thứ sáu, ông Mai Thanh Truyết
có khuynh hướng và thích đơn giản hóa vấn đề. Chỉ thử nghiệm một vài mẫu
nước tuy chưa có kết quả ǵ đáng báo động, nhưng ông đă vội vàng tiên đoán
cho tương lai. Đây là một lạm dụng sơ đẳng trong khoa học, bởi v́ theo một
nguyên tắc căn bản, nhà khoa học chỉ có quyền phát biểu những ǵ nằm trong
giới hạn của số liệu, và nhất là cân chắc với những giả định đằng sau cách
tính. Nếu một nghiên cứu chỉ thu thập số liệu trong những người thuộc độ
tuổi 50 đến 60 th́ nhà nghiên cứu chỉ có quyền phát biểu trong độ tuổi đó,
và không thể tiên đoán cho những người ở độ tuổi 70 hay 40.
-
Thứ bảy, hai tác giả chưa bao
giờ công bố những "nghiên cứu" của họ trong các diễn đàn khoa học chuyên môn
để đồng nghiệp có thể kiểm tra phương pháp và dữ kiện của họ. Truy nhập
trong hệ thống Medline, người ta sẽ chẳng t́m được tên tuổi hai tác giả này
hay những công tŕnh nghiên cứu của họ. Ngay cả những bài viết gọi là "khoa
học" cho các báo dành cho công chúng, hai ông chưa bao giờ mô tả cách nghiên
cứu một cách rơ ràng, mà rất mù mờ đến độ không ai hiểu được hai ông đă thực
sự làm ǵ. (Nếu có dịp, tôi sẽ phân tích những bài viết này trong một bài
sau để phân biệt thế nào là một báo cáo khoa học và thế nào là một báo cáo
phi khoa học.)
-
Thứ tám, những phát biểu của
hai ông chưa bao giờ được kiểm chứng bằng thống kê học. Chỉ tuyên bố một con
số nào đó, và thôi. Tức là, người ta không biết mức độ biến thiên của con số
đó như thế nào, nó được tính toán ra sao, từ bao nhiêu mẫu. Hai ông tuyên bố
"Chúng tôi làm một việc mà từ trước đến nay chưa có ai làm, đó là so sánh
mức độ ô nhiễm Dioxin ở Việt Nam với các nơi bị ô nhiễm khác trên thế giới."
Nhưng trong tất cả các so sánh của hai ông không có ư nghĩa khoa học ǵ cả,
v́ các số liệu không được phân tích hay so sánh bằng các phương pháp thống
kê học hiện hành. Không thể so sánh hai con số trung b́nh, hay một con số
trung b́nh với một con số ngẫu nhiên, để đi đến một kết luận được. Ngay cả
cách tŕnh bày các dữ kiện bằng biểu đồ cũng mù mờ, khó hiểu. Chẳng hạn như
trong bài "Dioxin và chất độc màu da cam" (2), tác giả tŕnh bày một
biểu đồ có tựa đề là "T́nh trạng sức khỏe cựu chiến binh US" nhưng
người đọc chẳng biết nó có nghĩa ǵ, v́ tác giả chẳng màng giải thích ư
nghĩa của trục "y", và quan trọng hơn nữa, tác giả cũng chẳng cho biết
nguồn gốc của biểu đồ này là từ đâu và ai là tác giả gốc của nó.
-
Thứ chín, hai ông có khuynh
hướng trích dẫn những phát biểu của ... chính hai ông! Cách làm việc này
cũng tương tự như những người hành nghề vừa là quan ṭa, vừa là người lập
pháp, và kiêm nhiệm luôn chức năng thi hành bản án. Đây cũng là một đặc thù
của giới ngụy khoa học, v́ mục đích của những người làm trong ngụy khoa học
là càng dàn trải thông tin giả nhiều chừng nào tốt chừng đó. Nó c̣n thể hiện
một một đặc tính khác của ngụy khoa học, đó là không bao giờ thay đổi ư
kiến, mặc cho những bằng chứng mới.
-
Thứ mười, hai ông có khuynh
hướng vá lấp dữ kiện và nhận xét kiểu "lấy râu ông này cấm cầm bà kia". Điển
h́nh nhất cho cách làm việc này là trong bài viết "Kết quả phân tích nước
ở Việt Nam" (2), sau khi tŕnh bày một cách cực kỳ sơ sài các phân tích
nước trong vài khu vực ở Việt Nam, trong phần kết luận, thay v́ tác giả diễn
giải những kết quả này, ông lại dùng số liệu [không rơ nguồn gốc] ở ...
Bangladesh để suy luận cho t́nh h́nh ở Việt Nam! Phải nói đây là một cách
viết kỳ quặc mà tôi chưa từng thấy ngay cả trong các sinh viên đại học.
Khoa học, nhà khoa học, nghiên cứu,
trí thức, v.v. không phải là những phù hiệu mà ai muốn mang vào ngực th́ mang,
mà là những việc làm thực tiễn, những ư nghĩ hay sáng kiến mới. Muốn có những
sáng kiến mới và làm nghiên cứu thực tế, nhà khoa học phải làm việc một cách
gian khổ, bất vụ lợi, có khi rất lâu dài, chứ không phải những loại lao động
trên máy computer và internet. Có thể ví khoa học như một cái đỉnh chót vót của
sự chính trực, công bằng, và hợp lí. Nhưng cái đỉnh này nó trơn và dễ bị trượt.
Người ta cần phải có một sự cố gắng tột bực mới đến gần hay đứng trên nó được,
và càng phải cố gắng hơn để ở được cái vị trí đó. Một khi nhà khoa học trở nên
buông lỏng hay uể oải th́ việc họ trượt xuống hàng ngụy khoa học là chuyện b́nh
thường và có thể hiểu được.
Đến đây th́ quí độc giả có thể có
một vài ư niệm rơ ràng về sự khác biệt giữa khoa học và ngụy khoa học, và qua đó
có thể xếp những phát biểu và bài viết của hai tác giả Mai Thanh Truyết và
Nguyễn Minh Quang vào loại khoa học nào. Những phát biểu của hai tác giả này,
tuy không có giá trị khoa học ǵ cả và cũng chẳng được bất cứ ai làm khoa học
nghiêm túc để tâm, nhưng chúng có thể làm cho công chúng hoang mang, và tạo một
ấn tượng không tốt trong công chúng về những giá trị khoa học đích thực. Cái
nguy hiểm là ở chỗ này, bởi v́, như tục ngữ ta có câu, "Con sâu làm rầu nồi
canh," những việc làm của hai tác giả này – nếu không được góp ư – sẽ là một
khuyến khích gián tiếp và mầm mống của một sự phát triển ngụy khoa học trong
cộng đồng người Việt.
Chú thích:
- Xem bài "Phản trí thức và lạm dụng khoa học
trong so sánh", của người viết bài này để biết thêm chi tiết, Người
Việt, Tháng 1, 2002.
- Xin xem các bài viết "Dioxin và chất độc
màu da cam," tác giả "Mai Thanh Truyết, Ph.D."; "Kết quả phân tích
nước ở Việt Nam," tác giả "Mai Thanh Truyết, Ph.D."; "Dioxins: việc
tái thẩm định mức độ độc hại," tác giả "Mai Thanh Truyết." Điạ chỉ
www.vastvn.org/vastnc.htm,
ngày truy nhập: 7 Tháng Hai, 2002.
- Xin xem bài "Dioxin: Từ trận giặc báo chí
Sài g̣n- đến báo cáo Hatfield", Mai Thanh Truyết. Điạ chỉ
www.vastvn.org/vastnc.htm,
ngày truy nhập: 7 Tháng Hai, 2002.
- Thực ra, thuật ngữ AML là viết tắt của cụm từ
Acute Myeloid Leukemia (Bạch cầu cấp thể tủy) để chỉ chung cho chứng ung thư
tế bào bạch cầu, do sự quá sản của tế bào ḍng tuỷ trong cũng như ngoài tuỷ
xương, làm cho xuất hiện một số lượng lớn bất thường tế bào dạng hạt
(granulocytic forms) trong các mô khác nhau của cơ thể. Người ta cũng gọi là
Granulocytic Leukemia. Nhóm này có nhiều thể gọi khác nhau: myelocytic,
myeloid, myelogenic, hay myelogenous đều cùng một đặc tính chung nêu trên.
- "Veterans and Agent Orange : Update 2000"
do Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to
Herbicides (Third Biennial Update) soạn thảo, và Institute of Medicine xuất
bản năm 2001.
|