Y học
thực chứng: vài nét khái quát
Nguyễn
Văn Tuấn
(trích
từ sách "Hai mặt sáng tối của y học hiện
đại"
Nhà xuất
bản Trẻ 2004)
Trong thời gian gần
đây, một cuộc cách mạng âm thầm đă và
đang xảy ra trong thế giới y khoa. Cuộc cách mạng
này có tên là "Evidence-based medicine" (mà người viết
tạm dịch là "Y học thực chứng"). Y học
thực chứng là ǵ? Phong trào này có ảnh hưởng ǵ
đến bệnh nhân? Bài viết ngắn này có mục
đích trả lời hai câu hỏi đó, và thảo luận
một số vấn đề liên quan đến phong trào
y học thực chứng.
Mô h́nh Aristotle và vấn đề
Có thể nói rằng
trong nhiều thế kỉ qua và ngay cả ngày nay, quá tŕnh
và phương pháp chẩn đoán cũng như chữa trị
bệnh tật được tiến hành theo mô h́nh của
Aristotle. Theo mô h́nh này, người thầy thuốc đứng
trước một người bệnh trước hết
t́m hiểu căn bệnh, rồi đi đến một
chẩn đoán, và sau đó là quyết định một
phương pháp điều trị, hoặc là giải phẫu,
dược liệu, hay tâm lí trị liệu. Nếu phản
ứng sau khi chữa trị được đánh giá là
tích cực th́ chẩn đoán và phương pháp chữa trị
được xem là đúng. Thoạt đầu mới
nghe qua th́ mô h́nh này không có ǵ sai và có thể nói là rất hợp
lí. Thực ra, mô h́nh làm việc này đă từng được
ứng dụng thành công trong y khoa từ bấy lâu nay. Chẳng
hạn như khi Frederick G. Banting và Charles H. Best (hai nhà khoa học
người Canada) phát hiện vai tṛ và ảnh hưởng
của sự thiếu hụt insulin trong các trường hợp
tiểu đường trong thiếu niên th́ phương
pháp điều trị cũng nằm ngay trong phát hiện
đó, tức là thay thế insulin. Phương pháp này
đem lại nhiều thành công ngoạn mục trong y khoa.
Mô h́nh của Banting và Best cũng là mô h́nh của tiến bộ
của y học trong suốt thế kỉ 20.
Nhưng con người
nói chung và giới thầy thuốc nói riêng thường có
khuynh hướng tiếp nhận những ǵ mà họ muốn
tiếp nhận. Nói một cách khác, chúng ta thường có
khuynh hướng chủ quan. Nếu theo một giác quan
thông thường nào đó, một phương pháp điều
trị sẽ có hiệu nghiệm, th́ bác sĩ sẽ cảm
nhận rằng phương pháp đó thực sự có hiệu
nghiệm, dù bằng chứng khoa học cho thấy ngược
lại.
Cho đến một
vài thế hệ trước đây, ư niệm về bệnh
tật rất đơn giản: bệnh nhân bị nhiễm
một độc tố (toxic) nào đó, hay một nhiễm
tố, hoặc trong cơ thể có quá nhiều dịch tố.
Từ ư niệm này dẫn đến một ư tưởng
là muốn chữa trị những bệnh như thế,
chỉ cần mở một cái mạch và để cho các
“độc tố” chảy ra ngoài: trích máu (hay tiếng Anh gọi
là blood-letting). Một khi độc tố bị thải ra
ngoài cơ thể, bệnh nhân sẽ cảm thấy khỏe
khoắn hơn. Cũng giống như bất cứ một
người nào trong chúng ta từng hiến máu đều thấy
sau khi hiến máu, chúng ta cảm thấy khỏe hơn; bác
sĩ th́ tin rằng sau khi thải độc tố, bệnh
nhân sẽ khỏe hơn. Đối với cả bác sĩ
và bệnh nhân, họ đều cảm thấy hài ḷng, v́
trong cơ thể bệnh nhân không c̣n độc tố nữa.
Ngày nay, chúng ta biết
rằng trích máu thực ra chỉ làm cho bệnh nhân chết
nhanh hơn. Một người lớn b́nh thường nếu
mất đi 10% thể tích máu tuần hoàn của toàn cơ
thể là có thể có biểu hiện rối loạn tuần
hoàn, và nếu mất 20% th́ shock giảm thể tích tuần
hoàn có thể xảy ra, tính mạng có thể bị đe
doạ rồi. Tổng thống Mĩ, George Washington, bị
mất hơn 2 lít máu trong ṿng hai ngày trước khi ông chết;
và ông chỉ bị đau cuống họng. Ông bị lấy
máu nhiều quá. Chúng ta biết rằng trích máu là một thuật
chữa trị nguy hiểm, kết luận này nhờ vào thử
nghiệm lâm sàng của một bác sĩ người Pháp tên
là Pierre Louis vào năm 1836. Pierre Louis tiến hành một thử
nghiệm mà ngày nay được xem là một thử nghiệm
lâm sàng đối chứng (controlled clinical trial) đầu
tiên trong thế giới y khoa. Trong thử nghiệm này, Louis
trị một số bệnh nhân với viêm phổi bằng
cách trích nhiều máu, và một số bệnh nhân khác, ông
trích ít máu hơn. Sau khi thử nghiệm, Louis đếm số
lượng bệnh nhân chết trong hai nhóm, và đi đến
kết luận rằng trích nhiều máu là một
phương pháp điều trị nguy hiểm. Nhưng kết
quả nghiên cứu và kết luận của Louis được
truyền đi rất chậm trong thế giới y khoa. Phải
cần đến cả trăm năm sau, giới bác sĩ
mới bắt đầu xem truyền máu lại vào cơ
thể bệnh nhân (thay v́ thải máu) như là một
phương pháp điều trị! Sau này, khi kĩ thuật
phân loại máu ra đời, việc tiếp máu mới
được thực hiện một cách an toàn hơn. Giới
bác sĩ nhanh chóng đi đến kết luận là đối
với những bệnh nhân bị bệnh nặng, duy tŕ mức
độ hemoglobin sẽ cải thiện căn bệnh.
Đứng trên khía cạnh giác quan b́nh thường, suy nghĩ
này cũng hợp lí, và tiếp máu trở thành một cách
điều trị và quản lí các bệnh nhân ở trong
t́nh trạng nguy kịch.
Ấy thế mà, khoảng
3 năm trước đây, kết quả của một
nghiên cứu lâm sàng "Transfusion requirements in critical care"
được công bố trên Tập san New England Journal of
Medicine [3], cho thấy ngoại trừ các bệnh nhân nhồi
máu cơ tim cấp tính (acute acutemyocardial infarction), việc
truyền máu cho những bệnh nhân nguy kịch với một
liều lượng hemoglobin trung b́nh không làm giảm tỉ
lệ tử vong, mà có thể làm tăng nguy cơ tử
vong! Cũng như trường hợp HRT, không ai biết tại
sao, nhưng đó là kết quả, là một thực tế.
Kết quả nghiên cứu này làm chấn động các bác
sĩ chuyên ngành hồi sức trong bệnh viện.
Từ lâu, giới
bác sĩ Tây phương thường khuyên các bà mẹ nên
cho trẻ em mới sinh ngủ nằm sấp, v́ họ tin
rằng cách ngủ này sẽ làm giảm xác suất trẻ
em chết đột ngột (c̣n gọi là Sudden Infant Death
Syndrome, hay SIDS). Măi cho đến thập niên 1980s, có người
đặt vấn đề là có bằng chứng nào làm
cơ sở cho lời khuyên này. Theo sau đó là một loạt
nghiên cứu lâm sàng cho thấy rơ ràng các trẻ sơ sinh nằm
sấp có nguy cơ bị chết cao hơn các trẻ ngủ
nằm ngửa. Và thế là một phong trào "Back to
sleep" được phát động để khuyến
khích trẻ em ngủ nằm ngửa. Nếu câu hỏi trên
được đặt ra vài mươi năm trước
th́ có biết bao trẻ em được cứu sống v́
SIDS.
Đầu thập
niên 1980s và 90s, giới thầy thuốc trên thế giới
là những "cảm t́nh viên" của một
phương pháp trị liệu có tên là HRT (hormone replacement
therapy, hay c̣n gọi là Phương pháp thay thế kích thích tố),
thường được dùng để chữa trị
những triệu chứng sau thời kỳ măn kinh như
nóng bừng. Thời đó, giới bác sĩ tin rằng HRT
sẽ làm cho phụ nữ trẻ trung hơn, sẽ
ngăn ngừa bệnh tim mạch và loăng xương trong
những phụ nữ có tuổi. Trong các trường y, một
số giáo sư c̣n đi xa hơn, giảng dạy sinh viên
rằng vấn đề HRT chưa được dùng rộng
răi trong các phụ nữ sau thời măn kinh là một tội
phạm trong ngành y!
Rồi đến
năm 1998, kết quả của một nghiên cứu lâm
sàng "Heart and Estrogen / Progestin Replacement Study" (HERS) [1]
công bố cho thấy estrogen không ngăn ngừa bệnh
tim, nhưng lại có một mối đe doạ khác là
tăng nguy cơ bị chứng vón cục máu (blood clot). Kết
quả nghiên cứu này làm cho giới bác sĩ lại ngẩn
ngơ! Họ ngạc nhiên đến nổi không tin kết
quả nghiên cứu. Mới đây, một nghiên cứu qui
mô khác cũng cho thấy HRT có thể hại nhiều
hơn là lợi cho bệnh nhân [2]. Thế nhưng hiện
nay, Premarin (một loại thuốc HRT) vẫn là loại
thuốc bán chạy nhất vào hàng thứ ba ở Mĩ.
Những trường
hợp khá điển h́nh trên đây cho thấy nhiều
phương pháp trị liệu hiện hành không có hiệu
nghiệm như chúng ta tưởng. Thậm chí, trong quá
tŕnh điều trị, người thầy thuốc c̣n có
thể gây nên thương tổn cho bệnh nhân. Nhưng
đó không phải là vấn đề. Vấn đề là
những quyết định của bác sĩ rút ra từ kinh
nghiệm quan sát lâm sàng hàng ngày thường không có độ
tin cậy cao. Thêm vào đó là phần lớn các
phương pháp chữa trị trong y học chưa bao giờ
được kiểm tra, đánh giá bằng các
phương pháp khoa học. Những phương pháp này
được dùng v́ bác sĩ tin rằng chúng có hiệu
nghiệm, và cũng như mọi niềm tin tôn giáo, nó không
dựa vào bằng chứng khoa học.
Điều đáng
ngạc nhiên là một ngành nghề mang danh hiệu khoa học
mà cần phải qua một thời gian dài đề ghi nhận
một nguyên lí mà ngay cả một người b́nh thường
không được huấn luyện trong khoa học cũng
có thể hiểu được: dựa vào bằng chứng.
Thoạt đầu
mới nghe qua t́nh trạng này, người ta ắt hẳn
phải ngạc nhiên. Ấn tượng mà công chúng thường
hướng về giới thầy thuốc là việc dùng
bằng chứng khoa học trong khi hành nghề. Do đó, nếu
công chúng biết rằng phần lớn bác sĩ không biết
đến y học thực chứng sẽ là một cú sốc
lớn cho họ. Nếu có người nói rằng các bác sĩ
ngày nay được đào tạo trong một hệ thống
giáo dục mà khi tốt nghiệp họ không đủ khả
năng đọc một bài báo về nghiên cứu y học,
hay không biết cách diễn dịch kết quả của một
nghiên cứu y học, th́ công chúng chắc sẽ c̣n sốc
mạnh hơn. Nhưng tiếc rằng đó lại là một
thực tế ngày nay.
Y học thực chứng
Y học thực chứng
ra đời với mục đích muốn thay đổi
t́nh trạng này. Nói một cách ngắn gọn, y học thực
chứng là một phương pháp thực hành y khoa dựa
vào các dữ kiện y học một cách sáng suốt và có ư
thức, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh
nhân. Các dữ kiện y học ở đây là kết quả
nghiên cứu y khoa đă được công bố trên các tập
san y học chuyên môn. Sử dụng dữ kiện y học
một cách "sáng suốt và có ư thức" có nghĩa là
người thầy thuốc phải cân nhắc, đánh
giá, phân loại các dữ kiện nghiên cứu y học, kết
hợp cùng kinh nghiệm lâm sàng và thông tin từ bệnh
nhân. Tóm lại, cái "giáo lí" căn bản của y học
thực chứng là bệnh nhân cùng làm việc với bác sĩ
của họ, trang bị bằng các dữ kiện khoa học,
để đi đến một quyết định, một
sự lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân. Bởi
v́ chỉ có bệnh nhân mới biết về họ chính
xác hơn là bác sĩ biết về họ.
Bản tuyên ngôn của
phong trào khoa học thực chứng được một
nhóm bác sĩ ở Ontario (Canada), khởi đầu là Bác sĩ
David Sackett, công bố vào năm 1993 trên Tập san Hiệp hội
Y khoa Hoa Kỳ (JAMA) và các tập san khác như British Medical
Journal và Lancet [4]. Bản tuyên ngôn này châm ng̣i cho một cuộc
tranh luận lâu dài và gay gắt về quyền lực, y
đức, và trách nhiệm trong y khoa mà nó đang đe dọa
thay đổi toàn bộ hệ thống y tế thế giới.
Một trong những
tranh luận không có hồi kết thúc là vai tṛ của cảm
nhận và khách quan khoa học. Quan điểm của phong
trào y học thực chứng là các quyết định y
khoa về chữa trị, hay thậm chí chính sách y tế
không nên dựa vào cảm tính hay kinh nghiệm cá nhân, mà cần
phải dựa vào các dữ kiện đáng tin cậy,
đă qua kiểm tra một cách khoa học và có hệ thống.
Trong khi đó, những người “bảo thủ” th́ cho rằng
cảm nhận và kinh nghiệm cá nhân phải được
tôn trọng tuyệt đối trong các quyết định
chữa trị bệnh nhân. Sự khác biệt căn bản
này chắc sẽ không bao giờ giải quyết được
qua tranh luận, v́ về bản chất nó là một sự
khác biệt giữa người có niềm tin và người
không có niềm tin.
Từ cái ngày đầu
tiên trong pḥng tử thi, mỗi sinh viên y khoa đều
được dạy một chân lí rằng “y khoa vừa
là một nghệ thuật, vừa là một khoa học".
Cái nghệ thuật tính biểu hiện ở cái trực
giác, cảm nhận của người bác sĩ về t́nh
trạng của một bệnh nhân và cách giải quyết
vấn đề bằng một phản ứng tự
nhiên.
Trực giác chắc
chắn là một phần không thể thiếu được
trong y khoa. Cơ thể con người cực kỳ phức
tạp, và những sự cố b́nh thường có thể
khác nhau giữa các bệnh nhân. Đứng trước một
trường hợp khẩn cấp, người thầy
thuốc phải khái quát hóa và rút gọn những vấn
đề phức tạp thành những nguyên lí cơ bản.
Trong t́nh huống thập tử nhất sinh đó, người
thầy thuốc không thể nào tra cứu được hết
tất cả các dữ kiện y học cho mọi vấn
đề. Thời gian tra cứu quá lâu và có thể đem lại
nguy hiểm cho tính mạng của bệnh nhân. Do đó, có
lúc cần phải hành động theo cảm giác và trực
giác.
Và từ đó y khoa
có một con đường tri thức ngắn, “trực
giác, tiên đề, và ước lệ". Không bao giờ
để cho mặt trời lặn trên áp xe. Nên hiểu câu
nói đó là: "giải phẫu sớm nếu điều
kiện cho phép!” Hay là cụ thể hơn: "Ông A coi bộ
không khỏe cả tháng nay; chắc không phải do cảm
cúm."
Cảm nhận / cảm
giác là khía cạnh nghệ thuật rất quyến rũ
đối với người thầy thuốc. Nó mang tính
cá nhân. Nó ấm áp t́nh người. Nó gần gụi.
Nhưng nói cho cùng, nghệ thuật là cái mà người ta cần,
và nếu một khi người bác sĩ cảm thấy tiếp
máu là một phương án cần thiết cho một bệnh
nhân bị viêm phổi th́ đó không là lí do chuyền máu cho bệnh
nhân ư?
Câu trả lời
thường là "vâng". Ấn tượng lâm sàng rất
quan trọng và cần phải cân nhắc tưởng một
cách nghiêm chỉnh. Khi một nữ hộ sản cảm thấy
lo lắng trước một trường hợp trẻ
sơ sinh, người bác sĩ phải quan tâm, cho dù
chưa có thử nghiệm sinh hóa nào cả. Cái nghệ thuật
này cũng giống như một loại ảo thuật.
Và một khi chúng ta tin tưởng vào phép lạ, khó mà
tưởng tượng nổi có cái ǵ mà phép lạ không
làm được.
Những người
phê b́nh phong trào y học thực chứng bảo vệ cái cảm
giác này. Họ cho rằng đó không phải là một sự
lười biếng trong suy nghĩ, nhưng là một kiểu
suy nghĩ tinh vi, kết hợp nhiều yếu tố khác
nhau cũng như xử lí nhiều dữ kiện (qua kinh
nghiệm cá nhân) khác nhau. Đó là lí do mà Kasparov vẫn có thể
đánh bại máy computer “Deep Blue”. Họ lí giải rằng
dữ kiện khoa học không thể dùng làm kim chỉ nam
cho mọi quyết định y khoa. Hiện nay, số
lượng thử nghiệm lâm sàng đối chứng c̣n
rất ít. Mà dù cho có đầy đủ dữ kiện từ
thử nghiệm đi nữa, cũng khó mà khái quát hóa kết
quả của những nghiên cứu này đến một
cá nhân người bệnh.
Những người
chống lại phong trào y học thực chứng thấy
phong trào này là một một bước trong nhiều bước
đi đến cơ khí hóa và tự động hoá y khoa,
và là một mối đe dọa đến người bác
sĩ. Nhưng những người ủng hộ phong trào
lí giải rằng y học thực chứng cung cấp cho
người bác sĩ một phương tiện để
luôn luôn nâng cao tŕnh độ nghề nghiệp. Y học thực
chứng thể hiện một sự hoài nghi trong y học,
nhưng cũng đồng thời mở ra một cánh cửa
khác. Nếu một thuật chữa trị được
chứng minh là có hiệu nghiệm, bất kể đó là
thuốc Tây hay thuốc Bắc, th́ nó nên được ứng
dụng vào các trường hợp lâm sàng thích hợp. St
John Wort chẳng hạn đă được chứng minh
là có khả năng chống trầm cảm trong thử nghiệm
lâm sàng, do đó, theo quan điểm của y học thực
chứng, không có lí do ǵ để gọi St John Wort là một
thuốc chữa trị phụ cả. Nếu có bằng chứng
cho thấy cạo gió chữa khỏi cảm lạnh và an
toàn th́ thuật chữa trị nên được sử dụng.
Y học thực chứng không phân biệt “y học chính thống”
và "y học phi chính thống".
Cái thay đổi
căn bản mà phong trào y học thực chứng đem lại
trong y học là mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh
nhân. Cho đến nay, mối quan hệ này không b́nh đẳng,
v́ trong đó người quyết định là bác sĩ,
và bệnh nhân là người tuân hành theo quyết định
đó. Y học thực chứng không muốn người
bác sĩ nói “Tôi đề nghị anh nên dùng thuốc
này", hay những phát biểu mang tính khẳng định
và làm áp lực như "Tôi nghĩ rằng", "Tôi
tin rằng", "Kinh nghiệm tôi", "Đồng
nghiệp tôi từng”, v.v… Y học thực chứng muốn
người bác sĩ phải học cách nói “Tôi thấy có bằng
chứng cho thấy thuốc này có hiệu nghiệm trong X
phần trăm trong những người mang bệnh
như anh. Vậy anh thấy sao?”. Sự thay đổi này,
tuy bề ngoài không có ǵ là quá đáng, nhưng về bản
chất nó dẫn đến sự suy sụp về quyền
lực của người thầy thuốc, và cái quyền
quyết định được chuyển giao cho bệnh
nhân. Đây là một khía cạnh mà mối quan hệ bác sĩ
– bệnh nhân sẽ thay đổi trong thời đại
y học dựa vào thực chứng. Trong thực tế và ở
mức độ vĩ mô, phong trào y học thực chứng
ủy quyền cho dữ kiện khoa học, và do đó ủy
quyền cho hai phía, bệnh nhân và bác sĩ. Hai bên cùng có lợi.
Nói một cách khác,
trong thế giới y học thực chứng, người
bác sĩ đóng vai tṛ người hướng dẫn, giới
thiệu dữ kiện y học, và có trách nhiệm tŕnh bày
những dữ kiện đó trong một bối cảnh
liên hệ đến bệnh nhân. Nhưng quyết định
cuối cùng là của bệnh nhân: họ có quyền chấp
nhận hay từ chối đề nghị của bác sĩ.
Nếu không có các dữ kiện y học trước họ,
sự suy xét thuộc quyền sở hữu của người
bác sĩ. Nhưng trong y học thực chứng, sự suy
xét này của bác sĩ được chuyển nhượng
cho bệnh nhân.
Cái qui tŕnh mà y học
thực chứng muốn giới thầy thuốc phải
tuân theo là phải xem xét tất cả bằng chứng khoa
học liên quan đến căn bệnh, phải cân nhắc
lợi và hại của mỗi phương án chữa trị,
và đi đến một quyết định tốt nhất
cho bệnh nhân. Có thể lấy một ví dụ về một
bệnh nhân nữ, 49 tuổi, măn kinh đă 2 năm, sức
khỏe b́nh thường, nhưng bà đang khổ tâm v́ triệu
chứng khô âm hộ và hay đổ mồ hôi 3 tháng nay, bà
có mẹ từng bị ung thư vú, và hiện nay v́ mật
độ xương của bà thấp (trị số T là
-3.0), nên bà muốn chữa trị loăng xương. Đứng
trước t́nh huống này, người bác sĩ phải
cân nhắc một cách cẩn thận. Nếu không điều
trị, xương của bà sẽ c̣n giảm thêm, và xác suất
bà sẽ bị găy xương trong ṿng 10 năm tới sẽ
lên đến 30%. Nếu chọn phương án điều
trị bằng thuốc, bác sĩ có vài lựa chọn;
trong số này, có 3 lựa chọn chính là: (a) thay thế
hormone, hay HRT (hormone replacement therapy); (b) bisphosphanates (như
Fosamax chẳng hạn); hoặc (c) selective estrogen receptor
modulator (SERM, như Raloxifen chẳng hạn).
Theo nguyên lí của y học thực chứng, người
bác sĩ phải điều nghiên bằng chứng về sự
hữu hiệu của từng loại thuốc, trước
khi đi đến một quyết định cố vấn
bệnh nhân. Để điều nghiên sự hữu hiệu
của thuốc, người bác sĩ phải biết cách
đọc một bài báo y học, phải hiểu và biết
cách đánh giá bằng chứng y khoa, và phải biết cách
phân tích lợi hại cho từng cá nhân người bệnh.
Sau khi duyện qua các bằng chứng nghiên cứu, người
bác sĩ biết rằng cả ba loại thuốc đều
có khả năng pḥng chống nguy cơ găy xương,
nhưng hiệu quả của bisphosphanates được
xem là cao nhất so với HRT và SERM. Tuy nhiên, bisphosphanates
không có khả năng làm giảm các triệu chứng
như khô âm hộ và hay đổ mồ hôi. Mặt khác, HRT
có thể giảm các triệu chứng sau thời măn kinh,
nhưng nếu dùng lâu sẽ làm tăng nguy cơ ung thư
vú cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân đă có người
trong gia đ́nh bị bệnh này. Sau cùng SERM không làm tăng
nguy cơ ung thư vú cho bệnh nhân, nhưng hiệu quả
của nó đến việc làm giảm các triệu chứng
sau thời măn kinh chưa được minh chứng rơ
ràng. Do đó, ở đây cả bác sĩ và bệnh nhân phải
cùng nhau đi đến một quyết định tối
ưu, và quyết định này phải phản ánh ưu
tiên của bệnh nhân, chứ không phải ưu tiên của
người bác sĩ.
Cho đến nay,
người ta chưa biết bệnh nhân sẽ tiếp nhận
y học thực chứng ra sao. Con người là những
sinh vật xă hội. Chúng ta không muốn phải quyết
định mọi vấn đề, nhất là phải cần
đến những tham khảo các dữ kiện khoa học
ở thư viện hay trên hệ thống internet. Nhưng
trong cùng lúc, chúng ta không những muốn được bảo
vệ và chống lại bệnh tật, muốn được
chăm sóc khi bị đau ốm, mà c̣n muốn kiểm soát
cuộc sống của chính chúng ta. Trong thực tế, mâu
thuẫn và nghịch lí này khó có thể hóa giải ở mức
độ cá nhân.
Giới bác sĩ nói
chung cũng không mấy thích những quan điểm của
y học thực chứng, bởi v́ nó làm thay đổi cái
ư niệm thế nào là một bác sĩ. Sự hiện diện
và phát triển của phong trào y học thực chứng, tự
nó, nói lên một sự thật là trong thời đại
thông tin, những người hành nghề y khoa không c̣n là những
anh hùng hào hiệp như thuở xa xưa. Những thuật
chữa trị ngoạn mục càng ngày càng ít đi.
Penicillin cho bệnh sưng màng óc, streptomycin cho bệnh lao,
salk vaccine cho bệnh Polio, v.v… chỉ là những viên đạn
huyền diệu (magic bullet) của quá khứ. Ngày nay, chúng
ta chết không phải v́ bệnh lao, v́ bệnh truyền
nhiễm, mà v́ những bệnh như tim mạch, ung
thư, những bệnh do nhiều yếu tố gây nên, và
do đó, không dễ ǵ có được một viên đạn
huyền diệu để chữa trị.
Cảm nhận tuy
quan trọng, nhưng cảm nhận không thể là một
phương pháp để đương đầu với
những căn bệnh phức tạp. Những bệnh
này đ̣i hỏi nhiều cân nhắc cho một cá nhân. Những
cân nhắc này phải dựa vào dữ kiện khoa học,
vào con số thống kê. Nếu một loại thuốc
đem đến hiệu nghiệm cho 28%, và một loại
thuốc khác có tỉ lệ hiệu nghiệm là 31%, th́ loại
thuốc thứ hai sẽ được xem là ưu tiên. Mức
độ khác biệt giữa 28% và 31% rất nhỏ để
người bác sĩ phải lưu ư, nhưng sự khác biệt
này có ư nghĩa lớn cho một cộng đồng, một
dân số. Đối với một bệnh nhân, sự khác
biệt sẽ không có ư nghĩa ǵ, nhưng trong một quốc
gia, sự khác biệt có thể dẫn đến việc
cứu sống cho hàng ngàn người.
Kế toán gia hiểu
biết được tầm quan trọng của con số,
nhưng giới bác sĩ chỉ mới dần dần hiểu
được sức mạnh của con số. Giới
bác sĩ ngày nay phải học những bài học mà giới
kế toán đă từng học hơn một thế kỉ
qua. Dù thế nào đi nữa, th́ Y học thực chứng
ra đời cũng với một mục địch tiên
chỉ của Tổ chức Y tế tế giới về
cung cấp sức khoẻ cho người dân qua định
nghĩa đầy đủ: ”Sức khoẻ là t́nh trạng
sung mă về thể chất, tinh thần, và cả về mặt
quan hệ xă hội, chứ không chỉ đơn thuần
là không có bệnh hoặc không ốm yếu"
Dù c̣n trong giai đoạn
phôi thai và có chống đối, nhưng phong trào và triết
lí của y học biện đă chinh phục đại
đa số giới hành nghề y khoa. Lí thuyết về y
học thực chứng hiện đang được
đưa vào chương tŕnh huấn luyện bác sĩ và
y tá trong tất cả các trường y trong các đại
học ở các nước Tây phương, và trong nhiều
đại học ở các nước đang phát triển.
Các bộ môn chuyên khoa trong ngành y đều có chương
tŕnh đưa lí thuyết của y học thực chứng
vào thực tế chữa trị bệnh nhân.
Tri thức con người liên tục đặt câu hỏi
và đi t́m câu trả lời, và đó chính là một sản
phẩm của chính con người. Y học thực chứng,
nói cho cùng, thể hiện một phát triển tất yếu
của quá tŕnh tiến hóa tri thức y khoa. Về lâu về
dài, phong trào y học thực chứng sẽ góp phần nâng
cao vai tṛ của lí trí trong việc quản lí và chữa trị
bệnh nhân. Và như thế, phong trào này sẽ đem lại
phúc lợi cho chính người bệnh và nâng cao tri thức
và khả năng chuyên môn của giới y sĩ.
Chú thích:
[1] Hulley S, Grady D, Bush T, Furberg C, Herrington D, Riggs B, Vittinghoff
E. Randomized trial of estrogen plus progestin for secondary prevention of
coronary heart disease in postmenopausal women. Heart and Estrogen/progestin
Replacement Study (HERS) Research Group. Tập san JAMA, năm 1998; bộ
280: trang 605-13.
[2] Writing Group for the Women's Health Initiative Investigators. Risks and
benefits of estrogen plus progestin in healthy postmenopausal women: principal
results From the Women's Health Initiative randomized controlled trial. Tập
san JAMA, năm 2002; bộ 288: trang 321-33.
[3] Hebert PC, Wells G, Blajchman MA, Marshall J, Martin C, Pagliarello G,
Tweeddale M, Schweitzer I, Yetisir E. A multicenter, randomized, controlled
clinical trial of transfusion requirements in critical care. Transfusion
Requirements in Critical Care Investigators, Canadian Critical Care Trials
Group. Tập san New England Journal of Medicine, năm 1999; bộ
340: trang 409-17. Ngoài ra, cũng có thể tham khảo phần
phụ chú trong cùng Tập san cùng năm, bộ 340: trang 1056.
[4] Có thể xem các bài viết về y học thực chứng
sau đây: (i) Evidence based medicine: what it is and what it isn’t, Tập
san British Medical Journal 1996; bộ 312: trang 71-2; (ii) Evidence based
medicine, Tập san Lancet 1995; bộ 346: trang 1171; (iii) và một
loạt bài viết trên Tập san JAMA trong các số sau
đây [theo thứ tự: năm, bộ: trang]: JAMA 1993; 270:
2093-95; JAMA 1993; 270: 2598-601; JAMA 1993; 271: 59-63; JAMA 1994; 271:
389-91; JAMA 1994; 271: 703-7; JAMA 1995; 274: 1800-4. |