|
Tiêu chuẩn đề
bạt giáo sư: Có nên căn cứ vào số lượng bài báo ?
Nguyễn Văn Tuấn
Theo cách hiểu thông thường, giáo sư và phó
giáo sư đại học (tôi sẽ gọi chung là “giáo sư”) là những nhà
khoa học có uy tín cao trong lĩnh vực chuyên môn. Uy tín ở đây
thường được đo lường bằng những công trình nghiên cứu khoa học
có ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Do đó, thành quả nghiên
cứu khoa học được xem là một tiêu chuẩn quan trọng số 1 trong
việc đề bạt chức vụ giáo sư và phó giáo sư đại học.
Thành quả nghiên cứu khoa học có thể đánh giá
qua số lượng và chất lượng bài báo khoa học, và bằng sáng chế
(patents). Trong thời gian qua, đã có khá nhiều tranh cãi chung
quanh con số và cách tính điểm bài báo khoa học trong qui trình
đề bạt chức vụ giáo sư, nhưng chưa ai bàn đến cách đánh giá chất
lượng bài báo khoa học. Chẳng hạn như phát biểu trên VietNamNet
về tiêu chuẩn tiến phong giáo sư, Giáo sư Đỗ Trần Cát, Thư ký
Hội đồng Nhà nước về Chức danh Giáo sư, cho biết: "Mỗi
ứng viên cho chức danh giáo sư phải có 2 điểm - tương đương với
hai công trình - đăng trong các tạp chí uy tín",
và mỗi ngành chỉ có hai "tạp chí uy tín" ở trong nước, hiểu theo
nghĩa "nếu đăng ở đấy thì nó khó, chất lượng cao hơn. Còn
việc chọn đâu là hai tạp chí uy tín của mỗi ngành thì do hội
đồng ngành đề xuất, hội đồng thường trực sẽ thông qua. Còn các
bài báo đăng ở tạp chí khoa học ngoài nước tất nhiên là không
hạn chế rồi." Tôi thấy cách đánh giá này cần phải được xem
xét lại.
Hiện nay, có hơn 108.000 tập san khoa học
trên thế giới với đủ thứ chất lượng “thượng vàng hạ cám”. Con
số này chưa kể đến các tập san trực tuyến (online journals).
Thành ra, một công trình nghiên cứu dù có chất lượng thấp cỡ nào
đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì công trình sẽ
được in trong một tập san nào đó. Do đó, tôi cho rằng thật
là sai lầm nếu chỉ chú trọng vào số lượng bài báo khoa học trong
việc phong chức giáo sư đại học.
Vì có quá nhiều tập san khoa học với chất
lượng quá khác biệt, Viện Thông tin Khoa học (ISI – Institute of
Scientific Information) đã phát triển một hệ số có tên là hệ
số tác dụng (impact factor) để đánh giá chất lượng các tập
san khoa học. Cách tính hệ số tác dụng của ISI rất đơn giản, và
có thể minh họa bằng một ví dụ cụ thể. Để tính hệ số tác dụng
cho năm 2005, ISI tiến hành hai bước: trước hết họ đếm tổng số
lần mà các bài báo của năm 2005 (gọi số này là A) đã trích dẫn
hay đề cập đến tất cả bài báo công bố trong 2 năm trước đó, tức
là 2003 và 2004 (gọi số này là B). Hệ số tác dụng được tính
bằng cách lấy A chia cho B. Mỗi năm ISI đánh giá cho khoảng
7.500 tập san trên thế giới. Các tập san có uy tín cao như
Science, Nature, Cell, New England Journal of Medicine, Physics
Reports, v.v. thường có hệ số tác dụng từ 10 đến 52. Các
tập san trung bình có hệ số tác dụng từ 3 đến 10. Còn các tập
san không có uy tín cao, hệ số tác dụng chỉ trên dưới 0 hay 1.
Do đó, tại các đại học trên thế giới, khi
đánh giá chất lượng nghiên cứu của giáo sư, người ta cũng phải
xem xét tập san mà họ từng công bố. Tuy hệ số tác dụng như mô
tả trên chưa phải là thước đo hoàn chỉnh về chất lượng nghiên
cứu, tại nhiều nước Tây phương, hệ số tác dụng được sử dụng như
là một chỉ tiêu để tài trợ cho nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, hệ số tác dụng của tập san cũng tùy
thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ
môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số tác dụng cao hơn các
tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học). Vả lại,
hệ số tác dụng chỉ phản ánh uy tín của tập san chứ không hẳn
phản ánh ảnh hưởng của bài báo trên tập san. Trong lịch sử khoa
học, không ít công trình có ảnh hưởng lớn (hiểu theo nghĩa được
nhiều người trích dẫn và tham khảo) nhưng chỉ xuất hiện trên các
tập san với hệ số tác dụng thấp, hay thậm chí chưa bao giờ công
bố chính thức trên một tập san ! Cho nên một cách đánh giá chất
lượng khác là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài
báo mà nhà khoa học đã công bố (thuật ngữ tiếng Anh là
citations). Có thể nói ví von rằng số
lần trích dẫn là âm vang của một công trình nghiên cứu. Tần số
trích dẫn càng cao thì giá trị của công trình và uy danh nhà
khoa học càng cao theo.
Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Nói một
cách ngắn gọn, không có câu trả lời cho câu hỏi này. Nhưng
theo phân tích của ISI, trong tất cả các
bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% các bài
không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn, không bao
giờ được ai tham khảo sau 5 năm công bố ! (Trong các ngành như
kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%). Ngay cả được
trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên
dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong
vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích
dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn)
hơn 5 lần được xem là "có ảnh hưởng". Những công trình có ảnh
hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.
Bất cứ thời nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ngành
nào đều có những nghiên cứu -- nói thẳng ra là -- rác rưởi. Một
nhà khoa học có thể có hàng trăm bài báo khoa học trên các tập
san khoa học quốc tế, nhưng có thể đó chỉ là những công trình
nghiên cứu chất lượng thấp, hiểu theo nghĩa những công trình này
chẳng đem lại tri thức gì mới cho khoa học, chẳng có ảnh hưởng
gì đến chuyên ngành, hay chẳng đem lại lợi ích gì cho quốc gia.
Điều này có nghĩa là không không thể nào đánh
giá khả năng của nhà khoa học qua con số lượng bài báo, và càng
không đánh giá chất lượng công trình khoa học chỉ vì công trình
đã được công bố trên một tập san "quốc tế". Khi duyệt xét tiến
phong giáo sư, các cơ quan có trách nhiệm như
Hội đồng Nhà nước về Chức danh Giáo sư nên
xem xét đến hệ số tác dụng và số lần
trích dẫn của các công trình nghiên cứu khoa học mà ứng viên đã
công bố.
|