|
Trà xanh và sức
khỏe
Nguyễn Văn Tuấn
Trà là một
thức uống phổ biến vào hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau nước
uống). V́ mức độ phổ biến của trà trong dân số, cho nên các nhà
nghiên cứu y khoa rất quan tâm đến tiềm năng pḥng chống bệnh
tật của trà. Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy trà có
khả năng chống ung thư và tác dụng tích cực đến tim. Tuy nhiên,
các nghiên về mối liên hệ giữa trà và sức khỏe ở con người vẫn
c̣n rất ít và kết quả vẫn chưa rơ ràng hay dứt khoát. Một trong
những lí do của t́nh trạng bất định trong các nghiên cứu trà ở
con người là vấn đề thiết kế nghiên cứu, số lượng đối tượng ít,
thời gian theo dơi ngắn ... V́ thế cho đến nay, chúng ta vẫn
chưa đủ dữ kiện để đi đến một kết luận đáng tin cậy. Để khắc
phục các yếu điểm trên, các nhà nghiên cứu Nhật đă tiến hành một
nghiên cứu qui mô ở 40.530 người và theo dơi một thời gian khá
dài (trên 10 năm).
Giả thiết căn bản mà các nhà
nghiên cứu đặt ra là: nếu trà xanh có tác dụng tích cực đến sức
khỏe th́ nó có thể làm giảm tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư gây và
bệnh tim mạch, bởi v́ hai bệnh này là hai nguyên nhân hàng đầu
dẫn đến tử vong trong dân số Nhật.
Công tŕnh nghiên cứu được tiến hành ở quận
Miyagi (thuộc vùng Đông Bắc nước Nhật). Khoảng 80% dân số quận
Miyagi có truyền thống uống trà. Trong số này, gần phân nửa
uống trà ít nhất là 3 tách một ngày. Các nhà nghiên cứu sử dụng
một hệ thống thu thập dữ liệu gồm 40 câu hỏi về thói quen, thời
lượng, tần số và lượng thức ăn và thức uống mà các đối tượng
dùng hàng ngày. Đối với thức uống, họ hỏi đối tượng về dung
lượng uống trà xanh, trà đen, và trà ô-long (oolong). Họ theo
dơi các đối tượng trong 11 năm để ghi nhận số đối tượng qua đời
và nguyên nhân tử vong.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở
19.060 đàn ông, có 13.259 (gần 70%) người uống trà xanh ít nhất
là 1 tách mỗi ngày. Ở phụ nữ, có 16.569 (77%) người uống trà
xanh ít nhất là 1 tách mỗi ngày (xem bảng số 1 dưới đây).
Bảng 1. Tần số và
thói quen uống trà xanh
|
Tần số uống trà
xanh mỗi ngày |
Số lượng đối tượng nghiên cứu; n (%) |
|
Nam |
Nữ |
|
Không uống
|
5801 (30.4%) |
4901 (22.8%) |
|
Uống 1-2 tách /
ngày |
4325 (22.7%) |
4478 (20.9%) |
|
Uống 3-4
tách/ngày |
3895 (20.4%) |
4944 (23.0%) |
|
Uống trên 4
tách/ngày |
5039 (26.4%) |
7147 (33.3%) |
|
Tổng số |
19060 |
21470 |
Phát hiện chính của
nghiên cứu này có thể tóm lược qua các điểm chính sau đây:
Tử vong. Số
liệu về mối liên hệ giữa trà xanh và nguy cơ tử vong được tóm
tắt trong Bảng 2 dưới đây (tôi tŕnh bày nguyên số liệu
do tác giả cung cấp trong bài báo). Trong thời gian theo dơi
(11 năm), các nhà nghiên cứu ghi nhận 2.668 tử vong ở nam giới
và 1.541 tử vong ở nữ giới. Tỉ lệ tử vong tính trên 100
năm-người (person-years) ở nam giới là 1,51%, cao hơn khoảng 1,9
lần so với tỉ lệ ở nữ (0,78%).
Phân tích giữa hai nhóm (uống trà xanh và
không uống trà xanh) cho thấy ở nam giới, những người uống trà
xanh trên 4 tách mỗi ngày có tỉ lệ tử vong thấp hơn nhóm không
uống trà xanh khoảng 12% và độ khác biệt này có ư nghĩa thống kê
(tỉ số nguy cơ tương đối là 0.88 và khoảng tin cậy 95% là 0.78 –
1.00).
Ở nữ giới, tỉ lệ tử vong trong
nhóm uống trà xanh là 0,76% và tỉ lệ này thấp hơn so với nhóm
không uống trà xanh (0,83%). Tuy nhiên, chỉ co những người uống
trên 5 tácn mỗi ngày th́ độ khác bệit mới có ư nghĩa thống kê
(tỉ số nguy cơ tương đối là 0.80 và khoảng tin cậy 95% là 0.68 –
0.94)
Bảng 2.
Tỉ lệ tử vong và tỉ số nguy cơ tương đối theo tần số uống trà
xanh (số liệu theo dơi 11 năm)
|
|
Chỉ số thống kê |
Tần số uống trà xanh mỗi ngày |
|
Không uống |
1-2 tách |
3-4 tách |
>4 tách |
|
Nam |
Số đối tượng |
5801 |
4325 |
3895 |
5039 |
|
Năm-người |
53348 |
39678 |
35984 |
47273 |
|
Số tử vong |
747 |
541 |
584 |
796 |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối |
1.00 |
0.94
(0.82 – 1.07) |
0.97
(0.85 – 1.10) |
0.88
(0.78 – 1.00) |
|
Nữ |
Số đối tượng |
4901 |
4478 |
4944 |
7147 |
|
Năm-người |
43779 |
40738 |
46137 |
67238 |
|
Số tử vong |
362 |
331 |
336 |
512 |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối |
1.00 |
0.96
(0.81 – 1.15) |
0.86
(0.72 – 1.02) |
0.80
(0.68 – 0.94) |
Chú thích:
“Năm-người” ở đây là tạm dịch từ thuật ngữ
“Person-years”. Để hiểu khái niệm năm-người, có thể xem một ví
dụ 3 đối tượng sau đây: đối tượng A được theo dơi trong ṿng 5
năm, đối tượng B được theo dơi trong 10 năm, và đối tượng C 7
năm. Do đó, tổng số năm-người là 5+10+7 = 22. Tỉ số nguy cơ
tương đối (relative risk) ở đây có nghĩa là tỉ số giữa hai
tỉ lệ tử vong. Chẳng hạn như tỉ số nguy cơ 0.80 (nhóm nữ uống
trên 4 tách/ngày) có nghĩa là tỉ lệ tử vong trong nhóm này thấp
hơn nhóm không uống trà khoảng 20%. Số trong ngoặc của tỉ số
nguy cơ có nghĩa là khoảng tin cậy 95% (confidence interval).
Khi khoảng tin cậy 95% hoàn toàn dưới 1 (như 0,68 đến 0,94) hay
hoàn toàn trên 1 (như 1,10 đến 1,57) th́ mối liên hệ có ư nghĩa
thống kê (statistically significant); một khoảng tin cậy 95% dao
động từ dưới 1 đến cao hơn 1 (như 0,72 đến 1,02) có nghĩa là mối
liên hệ không có ư nghĩa thống kê.
Tuy nhiên, tôi thấy các số liệu ở
nam giới có vấn đề, và xu hướng tử vong có thể ngược lại những
ǵ các tác giả này viết trong bài báo. Thật vậy, ở nam giới,
những người uống trà xanh có nguy cơ tử vong cao hơn
những người không uống trà xanh! Có thể sử dụng các số liệu
trong Bảng 2 để làm vài tính toán đơn giản và thấy sự mâu thuẫn
của các tác giả bài báo (xem bảng sưới đây). Như có thể thấy,
tỉ lệ tử vong trong nhóm không uống trà xanh là 1,40% và trong
nhóm uống trà xanh là 1,56%. Như vậy, nguy cơ tử vong trong
nhóm uống trà xanh cao hơn 12% so với nhóm không uống trà
xanh! Thật ra, có bằng chứng cho thấy nguy cơ tử vong có xu
hướng tăng theo tần số uống trà xanh. Chẳng hạn như trong nhóm
uống trên 4 tách / ngày, tỉ lệ tử vong cao hơn khoảng 20% so với
nhóm không uống trà xanh. Do đó, có thể nói phát biểu của các
tác giả về ảnh hưởng của trà xanh ở nhóm nam sai lầm nghiêm
trọng.
Bảng 2a. Tỉ lệ tử vong ở nam giới (phân tích
lại)
|
Tần số uống trà xanh |
Số năm-người
(Person-years) |
Số tử vong |
Tỉ số tử vong
trên 100 năm-người |
Tỉ số nguy cơ
|
|
Không uống |
53348 |
747 |
1,40 |
1,00 |
|
Uống 1-2
tách/ngày |
39678 |
541 |
1,36 |
0,97 |
|
Uống 3-4
tách/ngày |
35984 |
584 |
1,62 |
1,16 |
|
Uống trên 4
tách/ngày |
47273 |
796 |
1,68 |
1,20 |
|
Nhóm uống trà
xanh |
122936 |
1921 |
1,56 |
1,12 |
Tử vong v́ bệnh tim mạch và
ung thư. Do khó khăn trong việc xác định dữ liệu, các nhà
nghiên cứu chỉ có thể phân tích tỉ lệ tử vong theo từng nguyên
nhân cho 7 năm (chứ không phải 11 năm như tổng số tử vong). Số
liệu về tử vong v́ bệnh tim mạch và ung thư được tóm lược trong
Bảng 3 dưới đây.
Các số liệu này cho thấy có một
xu hướng rơ rệt: uống trà xanh chỉ có ảnh hưởng tích cực đến sức
khỏe (hiểu theo nghĩa giảm tỉ lệ tử vong) ở nữ giới, và ngay cả
ở nhóm nữ, ảnh hưởng đó chỉ được ghi nhận đối với nguy cơ tử
vong v́ các bệnh tim mạch.
Bảng 3.
Tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim mạch và ung thư, và tỉ số nguy cơ
tương đối theo tần số uống trà xanh (số liệu theo dơi 7 năm)
|
|
Chỉ số thống kê |
Tần số uống trà xanh mỗi ngày |
|
Không uống |
1-2 tách |
3-4 tách |
>4 tách |
|
Nam |
Số năm-người |
36003 |
26885 |
24250 |
31718 |
|
Bệnh tim mạch |
149 |
103 |
98 |
131 |
|
Bệnh ung thư
|
179 |
142 |
175 |
243 |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối – tim mạch |
1.00 |
0.88
(0.68 – 1.14) |
0.84
(0.64 – 1.09) |
0.78
(0.61 – 1.00) |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối – ung thư |
1.00 |
1.02
(0.77 – 1.35) |
1.13
(0.86 – 1.48) |
1.04
(0.80 – 1.35) |
|
Nữ |
Số năm-người |
29653 |
27558 |
31040 |
44995 |
|
Bệnh tim mạch |
112 |
83 |
84 |
132 |
|
Bệnh ung thư
|
77 |
87 |
90 |
141 |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối – tim mạch |
1.00 |
0.84
(0.63 – 1.12) |
0.69
(0.52 – 0.93) |
0.69
(0.53 – 0.90) |
|
Tỉ số nguy cơ
tương đối – ung thư |
1.00 |
1.27
(0.98 – 1.74) |
1.09
(0.79 – 1.49) |
1.07
(0.80 – 1.44) |
Chú thích: Xem chú thích Bảng 2.
Tuy nhiên, khi phân tích lại các
số liệu trên, tôi thấy một lần nữa, các tác giả này đă phát biểu
sai. Trong thực tế, các số liệu trên cho thấy vài xu hướng như
sau:
Đối với nhóm nam, không có sự
khác biệt đáng kể nào về tỉ lệ tử vong v́ bệnh tim mạch giữa
nhóm uống trà xanh và không uống trà xanh. Nhưng tỉ lệ tử vong
v́ bệnh ung thư trong nhóm uống trà xanh, tính trung b́nh, cao
hơn khoảng 36% so với nhóm không uống trà xanh! (Xem Bảng 3a).
Bảng 3a. Tỉ lệ tử vong ở nam giới (phân tích
lại)
|
Tần số uống trà xanh |
Số năm-người (Person-years) |
Tỉ số tử vong trên 100 năm-người |
Tỉ số nguy cơ (relative risk) |
|
Tim mạch |
Ung thư |
Tim mạch |
Ung thư |
|
Nam |
|
Không uống |
36003 |
0,41 |
0,71 |
1,00 |
1,00 |
|
Uống 1-2
tách/ngày |
26885 |
0,38 |
0,85 |
0,93 |
1,06 |
|
Uống 3-4
tách/ngày |
24250 |
0,40 |
1,09 |
0,98 |
1,45 |
|
>4 tách/ngày |
31718 |
0,41 |
1,21 |
1,00 |
1,54 |
|
Nhóm uống trà
xanh |
82853 |
0,40 |
1,06 |
0,97 |
1,36 |
|
Nữ |
|
Không uống |
29653 |
0,38 |
0,26 |
1,00 |
1,00 |
|
Uống 1-2
tách/ngày |
27558 |
0,30 |
0,32 |
0,80 |
1,22 |
|
Uống 3-4
tách/ngày |
31040 |
0,27 |
0,29 |
0,72 |
1,12 |
|
>4 tách/ngày |
44995 |
0,29 |
0,31 |
0,78 |
1,21 |
|
Nhóm uống trà
xanh |
103593 |
0,29 |
0,31 |
0,76 |
1,18 |
Vài nhận xét
Đây là một nghiên cứu thú vị về
tác dụng của trà xanh đối với sức khỏe trong một cộng đồng tương
đối lớn và được theo dơi khá lâu để có thể thu thập đủ số liệu
cho phân tích. Thế mạnh của nghiên cứu này là một quần thể lớn,
tỉ lệ người uống trà xanh khá cao, cho phép các nhà nghiên cứu
có thể phân tích theo từng nhóm nhỏ.
Tuy nhiên, nghiên cứu này có quá
nhiều khiếm khuyết và sai sót (dù được công bố trên một tập san
y học hàng đầu trên thế giới, tức tập san JAMA). Những yếu điểm
của nghiên cứu này có thể tóm lược qua vài điểm chính như sau:
-
Lượng trà xanh và thói quen uống trà mà
các tác giả phân tích dựa vào sự cung cấp của các đối tượng,
mà các nhà nghiên cứu không có cách nào để kiểm tra xem
những thông tin đó chính xác cỡ nào. Thông thường các thông
tin về lượng uống trà xanh không có độ chính xác cao, nhất
là ở các đối tượng cao tuổi. V́ thế, các kết quả của nghiên
cứu có thể thiếu tính khách quan.
-
Khoảng 10% đến 14% đối tượng mất liên
lạc, cho nên các nhà nghiên cứu không thể phân tích toàn bộ
quần thể mà phải dựa vào con số c̣n liên lạc được. Điều này
có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, bởi v́ những người
mất liên lạc có thể là những người mà sức khỏe không mấy tốt
và kết quả phân tích có thể nghiêng về nhóm lành mạnh!
-
Các nhà nghiên cứu tỏ ra mâu thuẫn, thậm
chí sai lầm, trong các phát biểu về ảnh hưởng của trà xanh
như tôi đă chỉ ra trong phần trên.
Nói tóm lại, nghiên cứu này tuy qui mô nhưng
có quá nhiều sai sót, cho nên mối liên hệ giữa trà xanh và sức
khỏe vẫn chưa được xác định rơ ràng.
Tài liệu tham khảo:
Kuriyama S, et al. Green
tea consumption and mortality due to cardiovascular disease,
cancer, and all causes in Japan. JAMA 2006; 296:1255-1265.
|