Thuốc chống đau thắt ngực và điều trị suy tim
thuộc dẫn xuất nitrate.
- Trinitrine tác động bằng cách gây giãn mạch
ngoại biên với ưu thế trên tĩnh mạch với giảm lượng máu dồn về tâm thất.
- Điều này cho phép :
- duy trì hoặc cải thiện hiệu năng của tim,
- giảm tiêu thụ oxy,
- giảm thiếu máu cục bộ ở cơ tim,
- phân phối lại lượng máu qua mạch vành.
Với liều cao hơn, trinitrine gây giãn tiểu động
mạch với giảm huyết áp động mạch.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Suy tim, đặc biệt suy tim trong giai đoạn cấp
tính của nhồi máu cơ tim.
- Phù phổi cấp có nguồn gốc tim.
- Đau thắt ngực nghiêm trọng.
- Gây hạ huyết áp có kiểm soát trong khi phẫu
thuật ; trong chỉ định này cần phải lưu ý các điểm sau :
- nếu cần hạ huyết áp ở mức độ trung bình có
kiểm soát, dùng Lénitral dạng tiêm bằng cách truyền liên tục thường sẽ đạt được
huyết áp hạ đến mức mong muốn một cách tuyệt đối ;
- nếu cần hạ huyết áp mức độ sâu có kiểm soát
(huyết áp động mạch trung bình thấp hơn hoặc bằng 50 mm Hg), chẳng hạn như cần
phải sử dụng trong phẫu thuật thần kinh, thì kết quả thường không ổn định (trong
2/3 trường hợp không có dùng một tác nhân khác) ;
- có thể hồi phục lại huyết áp bình thường một
cách nhanh chóng ;
- việc gây hạ huyết áp này có thể kèm theo giảm
dung lượng tim, tỉ lệ với mức độ hạ huyết áp, thường khoảng 20 đến 25%.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG
LÚC DÙNG
Truyền tĩnh mạch :
n Suy
tim, phù phổi cấp tính, đau thắt ngực nghiêm trọng : Sử dụng bơm tiêm bằng
điện.
Bộ dụng cụ tiêm truyền : một cách tổng quát,
truyền tĩnh mạch sau khi đã pha loãng 30 mg nitroglycérine (tương đương 2 ống
thuốc Lénitral 15 mg hoặc 10 ống thuốc Lénitral 3 mg) trong 500 ml dung dịch
đẳng trương, với lưu lượng không đổi nhờ vào bộ truyền dịch bằng điện ; trường
hợp không có bộ truyền dịch bằng điện :
- lưu lượng có thể được điều chỉnh bằng cách
đếm số giọt trong một phút ;
- theo dõi huyết áp mao mạch hoặc huyết áp động
mạch phổi hoặc ít nhất là huyết áp động mạch và tần số tim ;
- nên kiểm soát lưu lượng truyền nhằm tránh
tình trạng tụt huyết áp toàn thân dưới 20 đến 30 mm Hg, hoặc huyết áp mao mạch
dưới 14 mm Hg.
Liều lượng có thể thay đổi tùy theo từng chỉ
định, thông thường trong khoảng 20 đến 50 mg/phút.
Đôi khi cần dùng liều cao hơn để đạt được hiệu quả mong muốn, đặc biệt khi cần
gây hạ huyết áp có kiểm soát. Khi dùng liều cao, nên tăng liều từng nấc mỗi 5
đến 10 phút.
- Lưu ý : dùng thận trọng trong trường hợp
huyết áp mao mạch phổi thấp hơn 14 mmHg. Tránh giảm mạnh áp lực đổ đầy do có
nguy cơ gây giảm lượng máu.
n Gây
hạ huyết áp có kiểm soát : Chỉ dùng đường truyền tĩnh mạch, hoặc không pha
loãng, hoặc sau khi đã pha loãng trong dung dịch đẳng trương. Sử dụng bơm tiêm
bằng điện với lưu lượng có thể điều chỉnh được. Liều của Lénitral dạng tiêm cần
thiết để đạt được kết quả gây hạ huyết áp có kiểm soát thì thay đổi theo từng
bệnh nhân, cũng như là thời gian hạ huyết áp thu được. Mặt khác, lưu lượng của
Lénitral dạng tiêm được điều chỉnh theo kết quả trung bình của huyết áp động
mạch mong muốn so với mức độ hạ huyết áp thu được.
Đường tĩnh mạch trực tiếp :Trường hợp
cấp cứu phù phổi cấp tính nghiêm trọng có nguồn gốc tim : trung bình tiêm tĩnh
mạch trực tiếp trong 30 giây đến 1 phút, từ 1/2 ống đến 1 ống tiêm Lénitral 3
mg, đôi khi có thể tiêm lặp lại tùy theo kết quả thu được trong mỗi 10 phút sau
đó. Nên truyền duy trì Lénitral dạng tiêm với liều từ 1 đến 2 mg/giờ với các
điều kiện tương tự như khi sử dụng thuốc này bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch.
- Lưu ý : cần lưu ý ghi nhận huyết áp
động mạch lúc khởi đầu. Ở những bệnh nhân có huyết áp động mạch tâm thu dưới 12,
cần phải giảm liều. Trong thực tế, đã ghi nhận một số trường hợp tụt huyết áp
quan trọng (dưới 9), thường sẽ hồi phục lại sau khi ngưng điều trị.
- Các dạng dùng chuyển tiếp sau khi truyền tĩnh
mạch :
Liều của các dạng này được điều chỉnh theo lưu
lượng truyền lần cuối cùng, hoặc mỗi 6 đến 8 giờ theo mg/giờ tiêm, trung bình :
- trinitrine đường uống : Lénitral 7,5 mg, 1
hoặc 2 viên nang ;
- trinitrine đường qua da : Lénitral dạng ngấm
qua da, 15 mg (tương đương với 1 liều).
QUÁ LIỀU