Không nên dùng Basdène khi không có xác nhận về
mặt sinh học của bệnh cường giáp. Theo dõi công thức máu trước khi điều trị và
đều đặn mỗi tuần (nguy cơ mất bạch cầu hạt, tỷ lệ : 0,7%) trong 6 tuần đầu điều
trị. Khi dùng thuốc, nếu bị sốt, đau họng, hoặc bị nhiễm trùng khác, phải lập
tức làm công thức máu.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tuyến giáp của thai nhi chỉ bắt đầu phát triển
vào tuần lễ thứ 11 của thai kỳ, có thể tiến hành điều trị không có vấn đề gì cho
đến tháng thứ ba. Từ tháng thứ ba trở đi, do đã có ghi nhận tình trạng suy giáp
ở trẻ sơ sinh có mẹ đã sử dụng thuốc với liều cao trong thời gian có thai, do đó
không nên dùng thuốc vì nguy cơ suy giáp ở bào thai. Tuy nhiên, theo một số tác
giả, có thể dùng thuốc ở liều thấp và hơn nữa tình trạng cường giáp thông thường
có thể chịu đựng được trong thời gian có thai.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Mọi sự gia tăng thể tích tuyến giáp, trước tiên
phải nghĩ tới suy giáp do dùng thuốc quá liều.
Giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt hay suy tủy đột
ngột, phải ngưng thuốc.
Dị ứng (ngoài da, sốt, phát ban, đau khớp, đau
cơ, nhức mỏi).
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Bắt đầu bằng liều tấn công trong khoảng 1
tháng, sau đó theo dõi lâm sàng, giảm liều dần để đạt được liều duy trì trong 3
hay 4 tháng và tiếp tục liều này trong 18 tháng.
Việc điều chỉnh liều điều trị rất quan trọng vì
:
- nếu dùng không đủ liều lượng, các dấu hiệu
cường giáp sẽ xuất hiện trở lại hoặc trầm trọng hơn lên ;
- nếu dùng quá liều : suy tuyến giáp, biểu hiện
qua tăng TSH, tăng thể tích tuyến giáp.
Liều tấn công : 150 đến 200 mg (6 đến 8
viên)/ngày, trong vài tuần.
Liều duy trì (khi có cải thiện về lâm
sàng và các thử nghiệm chức năng cho kết quả bình thường trở lại) : 100 mg/ngày
(4 viên/ngày), trong nhiều tháng.
Dùng thuốc 3 đến 4 lần chia đều trong ngày, nên
uống vào các bữa ăn.
Thời gian ổn định : 5 năm.