Nitroxoline là một tác nhân kháng khuẩn thuộc
dẫn xuất của oxyquinolines.
Nitroxoline có phổ kháng khuẩn và kháng nấm tự
nhiên như sau :
- chủng thường nhạy cảm : Escherichia coli,
Ureaplasma urealyticum, Mycoplasma hominis ; Candida albicans, Candida sp trong
đó có các chủng tropicalis, krusei, parapsilosis và Torulopsis sp trong đó có
chủng glabrata ;
- chủng nhạy cảm không cố định : Proteus,
Staphylocoque ;
- chủng thường đề kháng : Pseudomonas sp,
Providencia sp, Klebsiella sp, Enterobacter sp, Serratia sp và các mầm bệnh kỵ
khí.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu : Nibiol được hấp thu nhanh sau
khi uống. Tỉ lệ hấp thu khoảng 90%.
Phân phối : đỉnh hấp thu trong huyết
thanh từ 4 đến 4,7 mg/l, đạt được từ 1 giờ 30 đến 2 giờ sau khi uống liều 200
mg. Thời gian bán hủy trung bình khoảng 2 giờ. Sau khi uống, nitroxoline được
tìm thấy trong nước tiểu. Liên kết với protéine huyết tương khoảng 10%.
Biến đổi sinh học : nitroxoline chịu sự
chuyển hóa ở gan thành dẫn xuất liên hợp (sulfo và glucuronic).
Bài tiết : trong nước tiểu : 50%.
Nitroxoline được bài tiết qua nước tiểu : 5% dưới dạng tự do, 95% dưới dạng liên
hợp trong đó chỉ có dạng liên hợp sulfo là có tác dụng kháng khuẩn. Thuốc được
bài tiết qua sự lọc ở cầu thận. Sau khi dùng liều duy nhất 200 mg, các nồng độ
trong nước tiểu đạt đến giá trị trung bình là 200 mg/l (sau 2 đến 4 giờ) ở người
tình nguyện khỏe mạnh và giữ cao hơn 30 mg/l trong ít nhất 12 giờ.
CHỈ ĐỊNH
Chia làm 3 lần/ngày, trước các bữa ăn.
Người lớn > 15 tuổi : 600 mg/ngày.
Trẻ em > 6 tuổi : 20 mg/kg/ngày.
Người suy thận :
Hệ số thanh thải créatinine > 20 ml/phút : giảm
liều còn phân nửa.
Hệ số thanh thải créatinine < 20 ml/phút :
chống chỉ định dùng nitroxoline.
Người suy gan : phải chia liều ra còn
phân nửa.