Cavinton cải thiện chuyển hóa não, làm tăng
tiêu thụ oxygen của não, làm tăng sức chịu đựng sự thiếu oxygen của tế bào não.
Một mặt, do ức chế sự kết tụ tiểu cầu và làm giảm sự tăng sức kháng của mạch,
Cavinton cải thiện có chọn lọc vi tuần hoàn ; mặt khác, do làm tăng hàm lượng
ATP và cAMP, cũng như làm tăng sự vận chuyển oxygen bởi hồng cầu, nên Cavinton
tạo ra những điều kiện năng lượng thuận lợi.
CHỈ ĐỊNH
Đường uống : để làm giảm những dấu hiệu
tâm thần và thần kinh của các rối loạn mạch não khác nhau (sau khi ngập máu não,
sau các tình trạng chấn thương hoặc xơ cứng) : rối loạn trí nhớ, mất ngôn ngữ,
mất dùng động tác, loạn vận động, choáng váng, nhức đầu và để điều trị những
triệu chứng mao mạch sinh dưỡng của hội chứng sau mãn kinh. Bệnh não do tăng
huyết áp, suy mạch não gián đoạn, rối loạn co thắt mạch não và viêm nội mạc động
mạch não.
Cải thiện tuần hoàn bên trong chấn thương não
cục bộ và trong vữa xơ động mạch não tiến triển.
Trong khoa mắt, thuốc có thể dùng để điều trị
rối loạn vữa xơ động mạch tiên phát, rối loạn mao mạch của võng mạc và mạch mạc
cũng như để điều trị thoái hóa điểm vàng và glaucome thứ phát do huyết khối
nghẽn mạch từng phần hay hoàn toàn.
Trong khoa tai, thuốc dùng để điều trị suy
thính giác do nguyên nhân mạch liên quan đến tuổi già hoặc do nhiễm độc (do dùng
thuốc), và choáng váng có nguồn gốc ở mê đạo.
Dùng đường tiêm : điều trị các bệnh thần
kinh trong các rối loạn mạch do thiếu máu não cục bộ có ổ, cấp tính, nếu giải
quyết được nguồn xuất huyết và đặc biệt dùng dưới dạng truyền dịch gián đoạn
chậm.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Các tác dụng không mong muốn rất hiếm.
Tim mạch : hạ huyết áp tạm thời, hiếm
khi nhịp tim nhanh hoặc ngoại tâm thu.
Thần kinh : rối loạn giấc ngủ, choáng
váng, nhức đầu và yếu mệt có thể xảy ra, mặc dầu chúng có thể là những dấu hiệu
của bệnh cơ bản.
Tiêu hóa : ợ nóng, đau bụng, buồn nôn.
Ngoài da : những phản ứng dị ứng ngoài
da.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
15-30 mg/24 giờ (1-2 viên nén mỗi lần, uống 3
lần/24 giờ) ; liều duy trì :15 mg/ 24 giờ (mỗi lần uống 1 viên, dùng 3 lần trong
24 giờ), dùng trong thời gian dài.
Khi truyền dịch gián đoạn, liều khởi đầu là 20
mg/24 giờ (pha 2 ống trong 500-1000 ml dịch truyền). Sau đó, liều thông thường
là 30 mg/24 giờ (pha 3 ống trong 500-1000 ml dịch truyền).
Nếu tình trạng của người bệnh đòi hỏi và nếu
chế phẩm này được dung nạp tốt, liều dưới dạng truyền dịch có thể được tăng một
cách cẩn thận để đạt đến 1 mg/kg thể trọng/24 giờ cho đến ngày điều trị thứ 10.
Lưu ý : Chế phẩm này không bao giờ được
dùng tiêm bắp hoặc tiêm ngay vào tĩnh mạch mà không pha loãng.
BẢO QUẢN