Viên nén :
Điều trị bổ sung các bệnh liên quan đến chứng
lo âu (bệnh thần kinh). Điều trị stress thoáng qua sau chấn thương tâm lý, tình
trạng bồn chồn, những triệu chứng thần kinh thực vật (đổ mồ hôi, run, hồi
hộp...). Điều trị hỗ trợ các chứng rối loạn tâm thần có nguồn gốc thực thể.
Tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch chậm :
Dùng diazepam trước khi can thiệp điều trị hoặc
can thiệp phẫu thuật (nội soi, khử rung tim, đặt ống thông tim, tiểu phẫu, tái
định vị sai khớp và gẫy xương, sinh thiết, thay băng khi bị bỏng...) để giảm
kích động hay các phản ứng stress cấp tính, dẫn mê hoặc bổ sung thuốc gây mê.
Trong khoa tâm thần : để điều trị các trạng
thái kích thích, bồn chồn, hoảng sợ có nguồn gốc từ trạng thái kích động ; mê
sảng rượu cấp.
Điều trị cấp tính cho các hội chứng co giật,
như động kinh cơn lớn, động kinh cơn bé, động kinh liên tục và các tình trạng co
giật khác (uốn ván, kinh giật).
Chỉ định chung cho cả đường tiêm và đường
uống :
Trong trường hợp chấn thương tại chỗ (tổn
thương, viêm) dùng điều trị hỗ trợ để giảm co thắt cơ phản xạ.
Trong những chấn thương nội thần kinh trên gai
và cột sống dùng diazepam để đối kháng tình trạng co thắt như co thắt nguồn gốc
não, bệnh bại liệt trẻ em, chứng liệt hai chi dưới, rối loạn vận động có đặc
tính tăng vận động, hội chứng Stiff-man.
Trong trường hợp cai rượu cấp - đã vượt qua
chứng nghiện rượu - việc dùng thuốc phải được quyết định dựa trên từng trường
hợp.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Tiêm bắp nên tiêm sâu vào trong cơ.
Tiêm tĩnh mạch chỉ nên tiêm chậm, tốc độ 0,5
ml/30 giây. Tiêm nhanh có thể gây ngừng thở. Thiết bị hồi sức nên có sẵn. Ngoài
ra, nên tránh tiêm vào những tĩnh mạch nhỏ, tránh tiêm ra ngoài mạch hoặc trong
động mạch.
Thuốc tiêm Seduxen không nên dùng chung ống
tiêm với bất kỳ chế phẩm nào khác, vì có nguy cơ kết tủa.
Nếu cần, thuốc tiêm Seduxen nên được hòa với
dung dịch dịch truyền glucose 5% theo cách sau :
- Không quá 5 ống tiêm Seduxen (10 ml) nên hòa
với 500 ml dịch truyền glucose 5%, hoặc
- Không quá 1 ống tiêm Seduxen (2 ml) nên hòa
với 100 ml dịch truyền glucose 5%.
- Dung dịch này nên được pha ngay trước khi
dùng.
- Chỉ truyền dịch nhỏ giọt dung dịch mới pha.
Thứ tự pha loãng không nên thay đổi, thuốc tiêm
Seduxen phải luôn luôn pha vào dịch truyền glucose 5%.
Trong trường hợp suy hô hấp, ngừng thở gây ngủ
và hôn mê, việc sử dụng thuốc này nên được cân nhắc kỹ càng, do nguy cơ trụy hô
hấp.
Liều lượng nên được xác định với sự thận trọng
tối đa trong trường hợp người bệnh suy chức năng thận và gan, có suy phổi mạn,
người già và suy nhược, nhũ nhi và trẻ em.
Nếu trầm cảm nặng và nghi ngờ có trầm cảm tiềm
ẩn, thì người bệnh chỉ có thể được điều trị với sự chú ý cao độ, vì sự nguy hiểm
của khuynh hướng tự vẫn tăng mạnh. Việc dùng thuốc lâu và kéo dài có thể dẫn đến
sự lệ thuộc thuốc. Trường hợp ngừng thuốc đột ngột sau khi điều trị lâu dài, thì
triệu chứng cai thuốc có thể xảy ra.
Với trẻ dưới 6 tuổi, không nên dùng các dạng an
thần, trừ những chỉ định bắt buộc.
Trường hợp nhạy cảm với lactose, nên tính mỗi
viên Seduxen chứa 120 mg lactose.
Điều trị thời gian dài, nên kiểm tra định kỳ
chức năng gan và công thức máu.
Trường hợp nhũ nhi dưới 6 tháng :
Nên tính đến sự chuyển hóa thuốc chưa phát
triển, không nên dùng viên nén này. Đối với trẻ sơ sinh dưới 30 ngày, sự an toàn
và hiệu quả của việc dùng thuốc tiêm chưa được chứng minh.
Lái xe và vận hành máy móc :
Trong pha đầu dùng Seduxen, cấm lái xe hoặc làm
các công việc nguy hiểm 12-24 giờ sau khi dùng thuốc. Sau đó mức độ hạn chế nên
được xác định theo từng cá thể. Thời gian thải trừ kéo dài, đặc biệt ở người cao
tuổi và những bệnh nhân suy gan hoặc suy thận, nên được cân nhắc.
Trong giai đoạn điều trị và do tác dụng của
thuốc, cấm uống các loại đồ uống có cồn.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Tác dụng ngoại ý thường xuyên nhất như mệt mỏi,
buồn ngủ, yếu cơ phụ thuộc liều. Trong phần lớn các trường hợp, những triệu
chứng này tự biến mất sau một vài ngày hoặc có thể tránh được bằng cách giảm
liều.
Các phản ứng bất lợi hiếm, như mất điều hòa, lú
lẫn, choáng váng, nhức đầu, run sợ, thay đổi tính khí, rối loạn thị giác, phát
ban, xuất hiện các rối loạn thần kinh thực vật, táo bón, loạn vận ngôn, giảm
huyết áp, không kiềm chế được nước tiểu, bí tiểu, buồn nôn, khô miệng hoặc tăng
tiết nước bọt, ngoại ban, run rẩy, thay đổi dục năng, nhịp tim chậm, rối loạn
thích nghi.
Rất hiếm khi xuất hiện sự tăng chứng vàng da
cũng như các trị số transaminase và phosphatase kiềm. Sau khi tiêm tĩnh mạch quá
nhanh có thể làm tăng huyết khối tĩnh mạch, viêm tĩnh mạch, kích ứng tại chỗ,
sưng hoặc những phản ứng mạch ít hơn có thể xuất hiện.
Trường hợp tiêm bắp, có thể xuất hiện đau tại
chỗ, hiếm khi kèm ban đỏ.
Chủ yếu sau khi tiêm tĩnh mạch, xuất hiện trụy
hô hấp, chứng quên về trước.
Tăng hưng phấn và lo âu, ảo giác, mất ngủ, tăng
trương lực cơ có thể xuất hiện như những phản ứng nghịch thường. Trong những
trường hợp này, nên ngừng dùng thuốc. Trong tài liệu, chứng vàng da ứ mật và
giảm bạch cầu trung tính cũng được đề cập đến.
Lệ thuộc thuốc :
Benzodiazepine có thể gây lệ thuộc thuốc - đặc
biệt trường hợp dùng thuốc dài ngày, liều cao ở những người bệnh đã có khuynh
hướng đó.
Trong những trường hợp ít trầm trọng hơn, những
triệu chứng bỏ thuốc là run rẩy, bồn chồn, rối loạn giấc ngủ, sợ hãi, nhức đầu
và giảm khả năng tập trung. Đổ mồ hôi, co thắt bụng và cơ, rối loạn cảm giác, mê
sảng và co giật do não cũng hiếm khi xuất hiện.
Chú ý : để làm giảm nguy cơ lệ thuộc thuốc, nên
dùng Seduxen trên cơ sở xem xét thận trọng từng chỉ định và tốt hơn là chỉ dùng
trong thời gian ngắn.
Để tránh triệu chứng cai thuốc, nên kết thúc
điều trị bằng cách giảm liều từ từ.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Nên cân nhắc theo từng cá thể, tình trạng đáp
ứng lâm sàng, vì vậy ở đây chỉ có thể đưa ra những hướng dẫn. Nên bắt đầu điều
trị với liều thấp và tăng liều dần dần đến liều thấp nhất có hiệu lực.
Thuốc tiêm :
Trường hợp dùng đường tiêm tĩnh mạch, cần tiêm
chậm (tối đa 0,5 ml/30 giây) vì tiêm nhanh có thể gây ngừng thở (xin đọc phần
Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Trong trường hợp bồn chồn do tâm thần vận
động, lo lắng cấp tính :
Đối với người lớn từ 10-20 mg tiêm bắp, trong
những trường hợp trầm trọng thì tiêm tĩnh mạch (trong những trường hợp đặc biệt,
liều có thể được tăng đến 30 mg cho tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp), tiếp tục điều
trị 10 mg mỗi lần, dùng 3-4 lần/24 giờ.
Trong trường hợp động kinh liên tục và các
cơn động kinh tái phát :
Liều khởi đầu 10-30 mg tiêm tĩnh mạch đối với
người lớn, 2-10 mg đối với trẻ em, có thể được lặp lại sau 1/2-1 giờ, sau đó cứ
mỗi 4 giờ thì lại lặp lại. Liều hàng ngày đối với người lớn không nên vượt quá
80-100 mg. Khi các cơn động kinh ngừng hoặc giảm, có thể tiếp tục điều trị với
đường tiêm bắp từng 4-6 giờ (đối với người lớn 10 mg, trẻ em 5 mg) và dùng trong
một vài ngày nếu cần thiết. Để phòng tránh các cơn động kinh mới, tiêm bắp 10 mg
(trẻ em, 5 mg).
Trong trường hợp cai rượu cấp, mê sảng rượu
cấp, ảo giác :
Để làm giảm các triệu chứng, không nên dùng
liều cao hơn 10 mg tiêm bắp, có thể lặp lại 3-4 lần/ 24 giờ. Liều khởi đầu có
thể tiêm tĩnh mạch chậm, nếu cần thiết.
Chuẩn bị phẫu thuật và khử rung tim :
Liều thấp hơn 10 mg tiêm bắp, 30 phút trước khi
can thiệp phẫu thuật.
Điều trị co thắt, cứng cơ và hội chứng
Stiff-man :
Liều thấp hơn 10 mg tiêm bắp hoặc khởi đầu với
liều tiêm tĩnh mạch, có thể lặp lại 3-4 lần/ 24 giờ, nếu cần. Điều trị uốn ván
có thể phải dùng liều cao hơn.
Người cao tuổi và bệnh nhân suy nhược :
Sự bài tiết Seduxen ở các đối tượng này có thể
dài hơn một cách đáng kể, thậm chí gấp đến 3-4 lần. Điều trị những bệnh nhân
này, nên bắt đầu với liều thấp, không vượt quá 1/2 liều bình thường, tức là 2-5
mg.
Trường hợp suy chức năng gan :
Dựa trên sự cân nhắc tương tự - nên dùng liều
rất thận trọng.
Trẻ em :
Trong chỉ định cho trẻ em, liều lượng nên được
xác định theo từng cá thể trong từng phạm vi chỉ định, theo tuổi, giai đoạn phát
triển, trạng thái chung và phản ứng lâm sàng. Ở trẻ em nên tiêm thật chậm (hơn 3
phút) với liều thấp hơn 0,25 mg/kg thể trọng. Liều đơn này có thể được lặp lại
sau 2-4 giờ. Chỉ dùng hơn 3 liều đơn/24 giờ trong trường hợp uốn ván và động
kinh liên tục.
Trong hội chứng co giật, có thể dùng 0,2 - 0,3
mg/kg thể trọng hoặc 1 mg/tuổi, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Trong những chỉ định khác, có thể dùng 0,2
mg/kg thể trọng.
Thuốc uống :
Việc chia liều hàng ngày thành 2-4 phần được
xác định theo từng cá thể. Nên dùng 2/3 liều hàng ngày vào buổi tối. Do sự khác
nhau lớn trong đáp ứng thuốc giữa các người bệnh, nên khởi đầu với những liều
nhỏ nhất, sau đó tăng lên đến liều hiệu quả tối ưu, dung nạp tốt.
Người lớn :
Trong trường hợp rối loạn thần kinh, triệu
chứng tâm thần cơ thể, lo lắng :
Liều đơn thông thường 2,5-5 mg (1/2-1 viên).
Liều thông thường hàng ngày đối với người lớn 5-20 mg. Liều đơn không nên vượt
quá 10 mg.
Điều trị hỗ trợ trong hội chứng co giật :
Liều thông thường 2,5-10 mg (1/2-2 viên), 2-4
lần/24 giờ.
Cai rượu cấp, mê sảng và rối loạn tâm thần
nội sinh :
Liều khởi đầu thông thường là 20-40 mg/24 giờ
(4-8 viên), liều duy trì là 15-20 mg/24 giờ (3-4 viên).
Co thắt cơ, co cứng và co giật cơ :
5-20 mg/24 giờ (1-4 viên).
Đối với người cao tuổi và bệnh nhân suy
nhược, hoặc suy chức năng gan :
Thời gian thải trừ của Seduxen có thể kéo dài
một cách đáng kể. Nên bắt đầu điều trị với liều thấp, khoảng nửa liều thông
thường, sau đó có thể tăng liều tùy theo sự dung nạp của từng cá thể.
Liều cho trẻ em :
Nên được xác định cho từng cá thể theo từng
phạm vi chỉ định, cân nhắc tuổi, sự trưởng thành, trạng thái chung và phản ứng
lâm sàng của từng cá thể. Liều khởi đầu thông thường đối với trẻ em, theo những
cân nhắc trên, là 1,25 - 2,5 mg/24 giờ, 2-4 lần, nếu cần. Liều này có thể giảm
hoặc tăng phụ thuộc vào đáp ứng từng cá thể.
Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, không nên dùng các
loại thuốc an thần hay giải lo, ngoại trừ những chỉ định bắt buộc, liều 0,1-0,3
mg/kg thể trọng/24 giờ.
QUÁ LIỀU