Nguy cơ tăng huyết áp: Để giảm đến mức tối
thiểu nguy cơ tăng huyết áp, nên khống chế tỉ lệ tăng hemoglobin ở mức khoảng 1
g/dl/tháng và không nên vượt quá 2 g/dl/tháng. Nên theo dõi nồng độ hemoglobin
ít nhất một lần mỗi tuần cho đến khi đạt tới mức ổn định và sau đó theo dõi định
kỳ. Nên kiểm soát huyết áp một cách đầy đủ trước và trong điều trị Eprex, khống
chế huyết áp khi cần thiết. Tăng cường điều trị cao huyết áp khi có các triệu
chứng báo động như phát sinh nhức đầu không thường xuyên hoặc nhức đầu gia tăng.
Nếu không kiểm soát được huyết áp, nên ngưng sử dụng Eprex.
Để có được đáp ứng tối ưu với Eprex, cần đảm
bảo lượng dự trữ sắt đầy đủ trước khi bắt đầu trị liệu. Nên đánh giá lại dự trữ
sắt trong suốt quá trình điều trị và bổ sung thêm. Ví dụ : sắt nguyên tố uống
200-300 mg/ngày (100-200 mg/ngày cho bệnh nhân nhi) được khuyến cáo cho tất cả
bệnh nhân có nồng độ ferritin huyết thanh dưới 100
mg/l.
Trên bệnh nhân suy thận mạn, việc điều trị
thiếu máu có thể dẫn đến thèm ăn và làm tăng lượng kali và protein ăn vào. Do đó
có thể phải chỉ định thẩm phân chu kỳ để duy trì urea, creatinin và kali trong
giới hạn mong muốn. Eprex không làm tăng tỉ lệ tiến triển của suy thận.
Do tăng thể tích hồng cầu khối, bệnh nhân điều
trị Eprex thường cần tăng liều heparin trong khi thẩm phân.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Liều lượng :
Bệnh nhân suy thận mạn :
- Nồng độ hemoglobin đích nên là 10-12 g/dl ở
người lớn và 9,5-11 g/dl ở trẻ em.
- Có thể dùng Eprex bằng đường tiêm tĩnh mạch
(TM) hoặc tiêm dưới da (TDD). Khi thay đổi đường dùng thuốc, lúc đầu nên sử dụng
liều như trước rồi sau đó điều chỉnh liều dùng để duy trì nồng độ hemoglobin
đích. Trên các nghiên cứu lâm sàng, liều tiêm dưới da thường thấp hơn 20-30% so
với liều tiêm tĩnh mạch cần thiết để đạt cùng hiệu quả lâm sàng.
- Trong giai đoạn chữa trị, nên tăng liều Eprex
nếu hemoglobin tăng < 1 g/dl/tháng. Thông thường ghi nhận mức gia tăng
hemoglobin có ý nghĩa lâm sàng sau 2 tuần và có thể đến 6-10 tuần ở một vài bệnh
nhân. Một khi đạt nồng độ hemoglobin đích, nên giảm liều 25 IU/kg/liều để tránh
tình trạng hemoglobin vượt quá tầm đích. Nếu nồng độ hemoglobin vượt quá 12
g/dl, nên ngưng dùng Eprex. Có thể giảm liều bằng cách bỏ đi một trong các liều
dùng mỗi tuần hoặc bằng cách giảm số lượng thuốc mỗi liều.
| |
Người lớn thẩm phân máu |
Người lớn thẩm phân phúc mạc |
Người lớn tiền (chưa) thẩm phân máu |
Trẻ em thẩm phân máu |
| Giai đoạn chữa trị: |
|
|
|
|
| Liều khởi đầu |
50 IU/kg |
50 IU/kg |
50 IU/kg |
50 IU/kg |
| 3 lần/tuần |
2 lần/tuần |
3 lần/tuần |
3 lần/tuần |
| Tăng liều mỗi 4 tuần (IU/kg/liều) |
25 |
25 |
25 |
25 |
| Giai đoạn duy trì: |
30-100 IU/kg, |
25-50 IU/kg, |
17-33 IU/kg, |
Xem * ở dưới |
| Liều thông thường |
3 lần/tuần |
2 lần/tuần |
3 lần/tuần |
(*) |
| Đường tiêm |
TM, TDD |
TDD |
TM, TDD |
TM |
| * Giai đoạn duy trì: ở trẻ em
thẩm phân máu: |
| |
Liều |
(IU/kg, 3 lần/tuần) |
| Trọng lượng (kg) |
Trung bình |
Liều duy trì thường dùng |
| < 10 |
100 |
75-150 |
| 10-30 |
75 |
60-150 |
| > 30 |
33 |
30-100 |
Bệnh nhân ung thư :
Nồng độ hemoglobin đích nên vào khoảng 12 g/dl.
Eprex có thể được dùng cho điều trị các bệnh nhân thiếu máu triệu chứng. Eprex
có thể cũng được sử dụng để ngừa thiếu máu ở những bệnh nhân bắt đầu hóa trị
liệu, có nồng độ hemoglobin trước điều trị thấp (< 11 g/dl) và ở những bệnh nhân
có sự giảm rõ ràng hemoglobin trong suốt chu kỳ đầu tiên của hoá trị liệu. (Ví
dụ : 1-2 g/dl nếu mức hemoglobin ban đầu là 11-13 g/dl hoặc giảm >= 2 g/dl nếu
mức hemoglobin ban đầu >= 13 g/dl). Liều khởi đầu của phòng ngừa hoặc điều trị
thiếu máu nên là 150 IU/kg, 3 lần mỗi tuần, tiêm dưới da. Nếu sau 4 tuần điều
trị, hemoglobin tăng < 1 g/dl, liều điều trị nên được tăng lên đến 300 IU/kg
trong 4 tuần. Nếu sau 4 tuần điều trị với liều 300 IU/kg, hemoglobin tăng < 1
g/dl, thì có khả năng bệnh nhân không đáp ứng và không nên tiếp tục điều trị.
Nếu hemoglobin tăng > 2 g/dl mỗi tháng, hãy giảm liều Eprex khoảng 25%. Nếu
hemoglobin vượt quá 14 g/dl, hãy tạm ngưng điều trị cho đến khi hemoglobin giảm
xuống 12 g/dl và rồi lập lại điều trị Eprex với liều thấp hơn 25% so với liều
trước đó. Nhu cầu tiếp tục liệu pháp Eprex nên được đánh giá lại một cách định
kỳ, ví dụ như sau khi hoàn thành liệu pháp. Tình trạng sắt nên được đánh giá
trên tất cả bệnh nhân trước và trong điều trị. Việc bổ sung sắt nên được thực
hiện khi cần thiết. Các nguyên nhân khác của thiếu máu nên được loại trừ trước
khi tiến hành điều trị bằng Eprex (xem Thận trọng lúc dùng).
Bệnh nhân nhiễm HIV, được điều trị
Zidovudine :
Người ta khuyến cáo nồng độ erythropoietin
huyết thanh nội sinh nên được xác định trước khi bắt đầu điều trị bằng Eprex. Dữ
liệu sẵn có cho thấy những bệnh nhân có nồng độ erythropoietin huyết thanh nội
sinh > 500 mU/ml thì thường không đáp ứng với liệu pháp Eprex.
- Giai đoạn chữa trị: 100 UI/kg, 3 lần mỗi tuần
tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch trong thời gian 8 tuần. Nếu sự đáp ứng không
được như ý (nhu cầu truyền máu giảm do hemoglobin tăng) sau 8 tuần điều trị,
liều Eprex có thể được tăng lên. Việc tăng liều nên được thực hiện theo từng mức
tăng 50-100 IU/kg, tiêm 3 lần mỗi tuần ở các khoảng thời gian ít nhất 4 tuần.
Nếu bệnh nhân đã không có được sự đáp ứng đầy đủ với Eprex ở liều 300 IU/kg, 3
tuần mỗi lần, thì thường họ cũng không có được sự đáp ứng ở liều cao hơn.
Giai đoạn duy trì : Sau khi đã đạt được sự đáp
ứng như mong muốn, liều dùng nên được điều chỉnh để duy trì hematocrit giữa
30-35%, dựa trên các yếu tố như các liều zidovudine khác nhau, sự hiện diện của
nhiễm trùng gian phát hoặc các giai đoạn viêm. Nếu hematocrit vượt quá 40%, nên
tạm ngưng điều trị cho tới khi hematocrit giảm đến 36%. Khi việc điều trị có thể
bắt đầu lại, liều dùng nên được giảm khoảng 25% và rồi điều chỉnh lại liều để
duy trì mức hematocrit mong muốn. Tình trạng sắt nên được đánh giá cho tất cả
bệnh nhân trước và trong khi điều trị và việc bổ sung sắt nên được thực hiện khi
cần thiết. Các nguyên khác gây thiếu máu nên được loại trừ trước khi bắt đầu
liệu pháp Eprex (xem phần Thận trọng lúc dùng).
Bệnh nhân phẫu thuật người lớn trong chương
trình tiền hiến máu tự thân :
Tất cả những chống chỉ định trong chương trình
hiến máu tự thân nên được tuân thủ ở những bệnh nhân đang được điều trị bổ sung
Eprex. Eprex nên được tiêm 2 lần mỗi tuần trong 3 tuần trước khi phẫu thuật nếu
khoảng thời gian tiền hiến máu tiền phẫu thuật cho phép. Ở mỗi lần bệnh nhân
hiến máu, 1 đơn vị máu được lấy ra và dự trữ cho việc truyền máu tự thân nếu
bệnh nhân có hematocrit >= 33% và/hoặc hemoglobin >= 11g/dl. Liều điều trị được
khuyến cáo là 600 IU/kg, tiêm tĩnh mạch 2 lần mỗi tuần. Đối với những bệnh nhân
có nhu cầu kích thích tạo máu ở mức độ ít hơn, liều điều trị 150-300 IU/kg, tiêm
tĩnh mạch 2 lần mỗi tuần đã cho thấy làm tăng hiệu quả tiền hiến máu tự thân và
làm giảm sự sụt giảm hematocrit sau lấy máu. Tình trạng sắt nên được đánh giá
trên tất cả bệnh nhân trước khi điều trị bằng Eprex. Nếu có tình trạng thiếu sắt
xảy ra, bệnh nhân nên được điều trị bổ sung sắt trước khi được cho phép tham gia
chương trình hiến máu tự thân. Ở những bệnh nhân thiếu máu, nguyên nhân gây ra
thiếu máu nên được tìm ra trước khi bắt đầu liệu pháp Eprex. Việc bổ sung sắt
đầy đủ (ví dụ : ít nhất 200 mg sắt nguyên tố uống mỗi ngày) được đòi hỏi bắt đầu
ngay khi có thể và nên tiếp tục trong suốt quá trình điều trị.
Hướng dẫn sử dụng :
Tiêm dưới da : Thể tích thuốc lớn nhất
cho mỗi vị trí tiêm nên là 1 ml. Nếu thể tích thuốc lớn hơn, nên dùng nhiều vị
trí tiêm. Nên tiêm ở các chi hay ở thành bụng trước.
Tiêm tĩnh mạch : nên tiêm Eprex chậm ít
nhất từ 1-5 phút, đặc biệt cho những bệnh nhân có các triệu chứng giống cúm. Ở
các bệnh nhân thẩm phân máu, nên tiêm thuốc vào kim fistula lúc hoàn thành lượt
thẩm phân. Để tráng rửa đường ống và bảo đảm việc tiêm thuốc vào hệ tuần hoàn
được hoàn hảo, sau khi tiêm Eprex, nên tiêm thêm 10 ml dung dịch muối đẳng
trương. Không nên dùng Eprex truyền tĩnh mạch hoặc trộn lẫn với các thuốc khác.
Tính tương kỵ :
Không được hòa tan hoặc chuyển sang bất cứ vật
chứa nào khác. Không được dùng kết hợp với dung dịch thuốc khác.
BẢO QUẢN