Clotrimazole là một dẫn chất tổng hợp của
imidazole và có cấu trúc hóa học gần giống với miconazole. Thuốc có tính kháng
nấm phổ rộng được bào chế dưới dạng bôi ngoài da, có khả năng ức chế sự phát
triển của hầu hết các loại vi nấm gây bệnh ở người loại dermatophytes, nấm men
và Malassezia furfur. Clotrimazolecho hoạt tính kìm vi nấm và diệt vi nấm in
vitro chống lại các chủng phân lập của Trichophyton rubrum, T. mentagrophytes,
Epidermophyton floccosum, Mycrosporum canis và Candida species, kể cả Candida
albicans. Không có tình trạng đề kháng bước đơn hay đa với clotrimazole phát
triển khi đang điều trị C. albicans và T. mentagrophytes. Calcrem cũng có tác
dụng chống lại một số vi khuẩn Gram dương đặc biệt là Staphylococcus và chống
lại Trichomonas.
Giống như các imidazole khác, thuốc tác động
lên tính thẩm thấu của vách tế bào vi nấm bằng cách can thiệp lên các lipide của
màng. Ở liều điều trị, thuốc ức chế sự tổng hợp ergostérol của vách tế bào,
nhưng ở nồng độ cao hơn, thuốc còn có thêm một cơ chế khác nữa gây hủy hoại màng
mà không có liên quan gì đến sự tổng hợp stérol, đến nay chưa rõ cơ chế đó. Có
tác giả nêu clotrimazole có tác dụng ức chế tổng hợp acide nhân, làm rối loạn
chuyển hóa lipide, polysaccharide gây tổn thương màng tế bào và làm tăng tính
thấm các màng phospholipide của lysosome của tế bào vi nấm.
Clotrimazole không gây quái thai cho chuột
cống, chuột nhắt hay thỏ. Liều cao đường uống có dấu hiệu độc cho thai ở chuột
cống. Không có báo cáo nào về khả năng gây ung thư của thuốc.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Thuốc được phân bố ở da dưới dạng không chuyển
hóa nồng độ giảm dần từ ngoài vào trong. Nồng độ tối đa ở tại lớp sừng hóa và
thuốc hiện diện kéo dài tại các nang lông.
Sau khi bôi tại chỗ da lành hay da bị tổn
thương, 0,1-0,5% thuốc được hấp thu nhưng không tìm thấy trong huyết thanh
(nghĩa là nồng độ thuốc dưới 1 ng/ml).
Nghiên cứu dùng thuốc bằng đường uống (là đường
ít dùng trong thực tế điều trị) và đường bôi âm đạo cho thấy thuốc được chuyển
hóa nhanh tại gan trước khi có ảnh hưởng toàn thân. 50% lượng clotrimazole và
chuyển hóa chất của thuốc trong huyết thanh gắn với albumine huyết tương. Hàm
lượng cả hai đạt đỉnh cao nhất trong vòng 2-6 giờ sau một liều uống. Nồng độ này
giảm dần trong khi tiếp tục dùng thuốc. Clotrimazole ở liều uống thấp 7
mg/kg/ngày kích thích khả năng oxy hóa của gan làm gia tăng sự chuyển hóa của
chính nó. Thuốc được bài tiết chủ yếu qua đường mật và đường tiểu với chỉ 1% ở
dạng hoạt động. Chưa rõ có bài tiết qua sữa mẹ hay có chuyển vận qua nhau thai
hay không. Sau một liều uống, 10% được thải qua nước tiểu sau 24 giờ, 25% trong
6 ngày.
CHỈ ĐỊNH
Điều trị tại chỗ tinea pedis (nấm da chân, nấm
kẽ), tinea cruris (nấm bẹn), tinea corporis (nấm da thân, lác đồng tiền) do T.
rubrum, T. mentagrophytes, E. floccosum và M. canis ; bệnh Candida do C.
albicans và tinea versicolor (lang ben) do M. furfur. Thuốc cũng có tác dụng
trong một số trường hợp nhiễm trùng da không do vi nấm như erythrasma do
Corynebacterium minutissimum.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chỉ dùng bôi ngoài da. Tránh để thuốc chạm mắt.
Nếu có kích ứng hay nhạy cảm, ngưng điều trị và thay bằng liệu pháp khác.
Phụ nữ có thai : Trong nghiên cứu lâm
sàng, dùng clotrimazole dạng dùng để bôi âm đạo cho phụ nữ có thai ở ba tháng
giữa và ba tháng cuối thai kỳ không thấy có tác dụng phụ. Tuy nhiên, chưa có
nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh trên phụ nữ có thai ba tháng đầu do đó chỉ dùng
nếu có chỉ định rõ ràng và tránh bôi diện rộng.
Phụ nữ cho con bú : Người ta không rõ
thuốc này có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Cần thận trọng khi dùng đối với mẹ
đang cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Sau khi rửa sạch vùng da bệnh, bôi một lớp mỏng
thuốc, chà xát nhẹ nhàng tại vùng da bệnh và rộng ra vùng xung quanh. Hai lần
mỗi ngày, sáng và tối, liên tục trong một tháng hoặc tối thiểu hai tuần sau khi
sạch các triệu chứng để ngừa tái phát. Tránh làm trầy xướt da trước khi bôi
thuốc. Cần giữ vùng da bệnh sạch và khô, kết hợp với vệ sinh cá nhân và môi
trường.
Triệu chứng lâm sàng thường được cải thiện,
giảm ngứa trong vòng tuần đầu tiên.
Dù triệu chứng có thể chỉ mới bớt cũng tránh
ngưng giữa chừng mà nên tiếp tục dùng thuốc cho đến hết liệu trình.
Nếu không thấy cải thiện triệu chứng sau 4 tuần
cần xem lại chẩn đoán hay đổi thuốc khác. ngưng sử dụng nếu bệnh trở nên tệ hơn,
hay nếu có kích ứng.
Với tổn thương có nhiều vảy, chất tiết, mủ,
dịch bẩn nên làm sạch trước khi bôi thuốc và tránh băng hay đắp kín.