Vancomycin hydrochloride là kháng sinh thuộc
nhóm glycopeptide ba vòng, được làm tinh khiết bằng phương pháp sắc ký, chiết
xuất từ Amycolaptosis orientalis (trước đây gọi là Nocardia orientalis) có công
thức hóa học là C66H75C12N9O24
. HCl. Phân tử lượng 1.486 ; 500 mg hoạt chất tương đương 0,34 mmol.
Vancomycin hydrochloride chứa trong lọ bột vô
khuẩn có hàm lượng tương đương với hoạt tính của 500 mg vancomycin. Vancomycin
hydrochloride ở dạng bột đông khô màu trắng ngà. Khi pha với nước, có dạng dung
dịch trong suốt và pH từ 2,5 đến 4,5.
Vi sinh học : tác dụng diệt khuẩn của
vancomycin chủ yếu do ức chế sự sinh tổng hợp của vách tế bào.
Hơn nữa vancomycin còn làm thay đổi tính thấm
của màng tế bào, làm thay đổi sự tổng hợp RNA của vi khuẩn. Không có đề kháng
chéo giữa vancomycin và các kháng sinh khác.
Vancomycin có hoạt tính chống : tụ cầu, bao gồm
tụ cầu vàng và Staphylococcus epidermidis (kể cả các chủng kháng methicillin),
liên cầu bao gồm Streptococcus pyogenes và Streptococcus pneumoniae (kể cả các
chủng kháng penicilline), Streptococcus agalactiae, nhóm viridans, Streptococcus
bovis, và cầu khuẩn ruột (ví dụ, Entercoccus faecalis [trước kia là
Streptococcus faecalis]), Clostridium difficile (ví dụ, dòng vi khuẩn tiết ra
độc tố, nguyên nhân của bệnh viêm ruột kết màng giả) và vi khuẩn gây bệnh bạch
hầu. Các vi khuẩn khác nhạy cảm với vancomycin in vitro gồm Listeria
monocytogenes, các dòng Lactobacillus, Actinomyces, Clostridium, Bacillus.
Vancomycin không có hiệu quả "in vitro" đối với trực khuẩn gram âm,
Mycobacteria, hoặc vi nấm.
Tác dụng hiệp đồng : Phối hợp vancomycin
với kháng sinh nhóm aminoglycoside có tác dụng hiệp đồng in vitro chống lại
nhiều dòng tụ cầu vàng, liên cầu nhóm D không ở ruột, cầu khuẩn ruột, dòng
Streptococcus (nhóm viridans).
Kháng sinh đồ : Phương pháp dùng đĩa
kháng sinh chuẩn mực để thử tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với vancomycin đã
được mô tả bởi Ủy Ban Quốc Gia về các chuẩn mực phòng thí nghiệm lâm sàng
(NCCLS). Kết quả đối với đĩa kháng sinh tẩm 30
mg vancomycin
hydrochloride nên được biện luận theo tiêu chuẩn sau : Các vi khuẩn gọi là nhạy
cảm khi tạo vòng đường kính vô khuẩn >= 12 mm, cho thấy vi khuẩn được nghiên cứu
có thể đáp ứng với điều trị. Nếu đường kính vòng vô khuẩn 10 hay 11 mm thì là
nhạy cảm trung gian, coi như vi khuẩn đáp ứng với sự trị liệu nếu nồng độ kháng
sinh cao tại các mô hoặc dịch bị nhiễm khuẩn. Các vi khuẩn đề kháng tạo vòng có
đường kính <= 9 mm ; khi đó, phải chọn kháng sinh khác.
Nếu dùng phương pháp pha loãng, vi khuẩn phân
lập được coi là nhạy cảm khi MIC của vancomycin <= 4 mg/L. Nếu MIC >= 16 mg/L,
thì vi khuẩn xem như đề kháng với vancomycin. Nếu MIC có trị số thấp hơn 16 mg/L
nhưng lớn hơn 4 mg/L thì được gọi là nhạy cảm trung gian.
Các phương pháp chuẩn mực đòi hỏi phải sử dụng
các vi khuẩn chứng ở phòng thí nghiệm. Đĩa vancomycin 30
mg phải cho
vòng có đường kính từ 15 đến 19 mm đối với chủng S.aureus ATCC 25923. Tương tự,
phương pháp pha loãng chuẩn mực cũng cần các vi khuẩn chứng ở phòng thí nghiệm.
Bột vancomycin chuẩn phải cho trị số MIC 0,5 mg/L - 2,0 mg/L đối với chủng S.
aureus ATCC 29213. Đối với E. faecalis ATCC 29212, thì trị số MIC phải từ 1,0 -
4,0 mg/L.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Vancomycin hấp thu kém khi uống. Dùng đường
tĩnh mạch để chữa nhiễm khuẩn toàn thân. Tiêm bắp gây đau.
Khi truyền vancomycin nhiều liều 1 g (15 mg/kg
thể trọng) liên tục trong 60 phút ở người bệnh có chức năng thận bình thường,
thì nồng độ trung bình trong huyết tương đạt được 63 mg/L ngay sau khi ngừng
truyền ; sau 2 giờ, nồng độ trung bình trong huyết tương là 23 mg/L ; sau 11
giờ, thì nồng độ là 8 mg/L Khi truyền nhiều liều 500 mg trong 30 phút, nồng độ
trung bình trong huyết tương khoảng 49 mg/L ngay sau khi kết thúc truyền ; sau 2
giờ, nồng độ trung bình trong huyết tương là 19 mg/L ; sau 6 giờ, thì nồng độ
trung bình trong huyết tương khoảng 10 mg/L. Nồng độ vancomycin trong huyết
tương tiêm nhiều lần tương tự như khi tiêm liều duy nhất. Thời gian bán thải
trung bình của vancomycin trong huyết tương là 4-6 giờ ở người có chức năng thận
bình thường. Trong 24 giờ đầu tiên, 75% liều vancomycin thải qua nước tiểu do
lọc cầu thận. Độ thanh thải trung bình trong huyết tương khoảng 0,058 L/kg/giờ
và độ thanh thải trung bình của thận khoảng 0,048 L/kg/giờ. Khi chức năng thận
suy giảm, thải trừ vancomycin chậm lại. Đối với người bệnh suy thận nặng, thì
thời gian bán thải khoảng 7,5 ngày. Hệ số phân phối từ 0,3 đến 0,43 L/kg. Không
thấy có sự chuyển hóa thuốc rõ rệt. Khoảng 60% lượng vancomycin khi tiêm qua
màng bụng dùng trong thẩm tách màng bụng sẽ được hấp thu vào máu sau 6 giờ. Khi
tiêm vancomycin qua màng bụng với liều 30 mg/kg, nồng độ thuốc trong huyết tương
khoảng 10 mg/L. Mặc dầu vancomycin khó đào thải qua đường thẩm tách lọc máu hoặc
thẩm tách màng bụng, nhưng những báo cáo cho thấy độ thanh thải vancomycin có
tăng lên khi truyền và lọc máu.
Hệ số thanh thải toàn thân và thanh thải qua
thận có thể giảm ở người bệnh cao tuổi.
Khi nồng độ vancomycin trong huyết thanh khoảng
từ 10 mg/L đến 100 mg/L, thì độ gắn kết vào protein huyết thanh khoảng 55%, đo
được bằng phương pháp siêu lọc.
Sau khi truyền tĩnh mạch vancomycin
hydrochloride, thì nồng độ ức chế vi khuẩn sẽ đạt được tại dịch màng phổi, dịch
màng tim, dịch báng, hoạt dịch, trong nước tiểu, trong dịch thẩm tách màng bụng
và trong mô tiểu nhĩ. Vancomycin hydrochloride không khuyếch tán qua màng não
bình thường để vào dịch não tủy, nhưng khi màng não bị viêm thì vancomycin thấm
được vào dịch não tủy.
CHỈ ĐỊNH
Dùng vancomycin trong các bệnh nhiễm khuẩn nặng
do các chủng tụ cầu kháng methicillin (kháng với
b-lactam).
Vancomycin còn có chỉ định trong trường hợp người bệnh dị ứng với penicillin,
hoặc người không đáp ứng với trị liệu bằng kháng sinh khác bao gồm các
penicillin và cephalosporin, và trong các nhiễm khuẩn do vi khuẩn nhạy cảm với
vancomycin, nhưng đề kháng với các loại kháng sinh khác. Còn dùng
vancomycin để điều trị khởi đầu khi nghi ngờ nhiễm tụ cầu kháng methicillin, sự
điều chỉnh điều trị sau này tùy thuộc kết quả vi sinh học.
Vancomycin có hiệu quả trong điều trị viêm màng
trong tim do tụ cầu, ngoài ra tính hiệu quả còn được chứng minh trong các nhiễm
khuẩn khác do tụ cầu, bao gồm : nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn xương, nhiễm
khuẩn đường hô hấp dưới, nhiễm khuẩn da và cấu trúc da. Khi nhiễm tụ cầu khu trú
và có mủ, cần phối hợp kháng sinh với phương pháp phẫu thuật thích hợp.
Vancomycin được báo cáo có hiệu quả khi dùng
đơn độc hoặc phối hợp với aminoglycoside trong trường hợp viêm màng trong tim do
Streptococcus viridans hay S. bovis. Trường hợp viêm màng trong tim do cầu khuẩn
ruột (thí dụ E. faecalis), vancomycin được báo cáo chỉ có hiệu lực khi phối hợp
với aminoglycoside. Vancomycin có hiệu quả trong điều trị viêm màng trong tim do
vi khuẩn bạch hầu. Kết hợp vancomycin với rifampin, aminoglycoside hoặc với cả
hai sẽ cho hiệu quả trong viêm màng trong tim giai đoạn sớm ở người bệnh có lắp
van giả phục hình gây ra do S. epidermidis hay do vi khuẩn bạch hầu.
Cần lấy bệnh phẩm để phân lập, định danh vi
khuẩn và xác định tính nhạy cảm với vancomycin.
Dạng tiêm có thể dùng đường uống trong trường
hợp viêm ruột kết màng giả liên quan đến kháng sinh gây ra bởi C. difficile hay
viêm ruột non-ruột kết do tụ cầu. Không có hiệu quả trong chỉ định này, nếu dùng
vancomycin đường tiêm. Ngoài chỉ định trên, không có hiệu quả nào khác khi dùng
vancomycin đường uống.
Mặc dầu không có các nghiên cứu có kiểm soát về
hiệu quả lâm sàng, Hiệp hội tim mạch và Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ đã đề nghị dùng
vancomycin như một kháng sinh dự phòng bệnh viêm màng trong tim do vi khuẩn để
thay thế penicillin khi người bệnh bị dị ứng với penicillin và có bệnh tim bẩm
sinh, thấp tim, bệnh van tim mắc phải khi những người bệnh đó cần có những thủ
thuật về nha khoa hoặc các phẫu thuật ở đường hô hấp trên.
Chú ý : Khi chọn lựa kháng sinh dự phòng
bệnh viêm màng trong tim do vi khuẩn, thầy thuốc và nha sĩ cần đọc kỹ khuyến cáo
của Hiệp hội tim mạch và Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Tổng quát : Một vài người bệnh uống
nhiều liều vancomycin để chữa viêm ruột kết có màng giả do C. difficile có thể
có nồng độ vancomycin trong huyết thanh có ý nghĩa trên lâm sàng.
Dùng vancomycin trong một thời gian dài có thể
làm phát triển quá mức các vi khuẩn không nhạy cảm. Cần theo dõi người bệnh cẩn
thận. Nếu có bội nhiễm trong quá trình điều trị, cần có các biện pháp điều trị
thích hợp. Trong một số ít trường hợp, thấy người bệnh dùng vancomycin đường
tĩnh mạch bị viêm ruột kết có màng giả do C. difficile.
Để giảm bớt nguy cơ độc tính trên thận ở người
bệnh có suy thận tiềm tàng hoặc có dùng kèm aminoglycoside, cần theo dõi chức
năng thận liên tục và tuân thủ chặt chẽ chế độ liều lượng thích hợp (xin đọc
phần Liều lượng).
Làm các xét nghiệm về chức năng thính giác
nhiều lần có thể giúp phát hiện bệnh lý nhằm làm giảm nguy cơ độc tính với thính
giác.
Giảm bạch cầu trung tính có hồi phục có thể xảy
ra ở người bệnh dùng vancomycin hydrochloride. Người bệnh nào phải dùng
vancomycin dài ngày hoặc phải dùng phối hợp với những thuốc gây giảm bạch cầu
trung tính, thì nên được theo dõi định kỳ công thức bạch cầu.
Vancomycin hydrochloride gây kích ứng mô, nên
cần được truyền ở những tĩnh mạch an toàn. Tiêm bắp hoặc khi truyền thuốc trệch
khỏi đường truyền do sơ ý sẽ gây viêm, đau tức và hoại tử ở nơi tiêm. Viêm tắc
tĩnh mạch có thể xảy ra, tần số và mức độ nghiêm trọng có thể được giảm nhẹ bằng
cách truyền chậm thuốc, pha loãng dung dịch (2,5 đến 5 g/L) và luôn thay đổi chỗ
tiêm truyền.
Có những báo cáo cho thấy rằng tỷ lệ tai biến
liên quan đến phản ứng tiêm truyền (gồm tụt huyết áp, đỏ bừng mặt, nổi ban, mề
đay và ngứa) tăng lên khi dùng chung với các thuốc gây mê. Những phản ứng phụ
này có thể được ngăn ngừa bằng cách tiêm truyền chậm vancomycin hydrochloride 60
phút trước khi khởi mê.
Chưa đánh giá được hiệu quả và tính an toàn của
thuốc khi tiêm vào dịch não tủy (qua đường tủy sống hoặc não thất).
Sử dụng trong nhi khoa : Ở trẻ đẻ non và
trẻ nhỏ, cần xác định nồng độ điều trị của vancomycin trong huyết thanh.
Sử dụng ở người cao tuổi : Sự suy giảm
tự nhiên về độ lọc của cầu thận gia tăng theo tuổi dẫn đến gia tăng nồng độ
vancomycin trong huyết thanh, nếu không chỉnh liều vancomycin thích hợp. Nên
điều chỉnh liều lượng cho thích hợp ở người cao tuổi (xin đọc phần Liều lượng).
Tính gây ung thư, gây đột biến và vô sinh
: Chưa có những nghiên cứu dài hạn trên động vật để đánh giá tính gây ung thư,
cũng chưa thấy có báo cáo nào về khả năng gây đột biến trên động vật thử nghiệm
trong phòng thí nghiệm. Chưa có những nghiên cứu xác định ảnh hưởng trên tính
sinh sản.
LÚC CÓ THAI
- Phản ứng liên quan đến tiêm truyền :
Trong hoặc sau khi tiêm truyền tĩnh mạch nhanh vancomycin hydrochloride, người
bệnh có thể có phản ứng giống choáng phản vệ, bao gồm tụt huyết áp, thở khò khè,
khó thở, nổi mề đay hoặc ngứa. Truyền dịch nhanh có thể gây chứng đỏ bừng phần
trên của cơ thể ("cổ đỏ") hoặc đau, co cứng cơ ở ngực và lưng. Những phản ứng
trên thường hết trong vòng 20 phút, nhưng cũng có thể kéo dài trong vài giờ. Các
thử nghiệm trên súc vật cho thấy tụt huyết áp, nhịp tim chậm xảy ra khi dùng một
liều lớn vancomycin với nồng độ cao và truyền với tốc độ nhanh. Những hiện tượng
trên ít xảy ra nếu truyền chậm, kéo dài hơn 60 phút. Trong các nghiên cứu ở
người khỏe mạnh bình thường, những phản ứng liên quan đến tiêm truyền không xảy
ra nếu truyền vancomycin hydrochloride ở tốc độ 10 mg/phút hoặc chậm hơn.
- Độc tính trên thận : Rất hiếm khi xảy
ra suy thận biểu hiện bằng gia tăng nồng độ creatinine hoặc BUN trong huyết
thanh, kể cả khi người bệnh được truyền vancomycin liều cao. Hiếm khi thấy viêm
thận kẽ. Phần lớn những trường hợp này là do người bệnh có dùng đồng thời
aminoglycoside hoặc có bệnh thận kèm theo. Nitơ/huyết trở lại bình thường trong
phần lớn trường hợp khi ngừng vancomycin.
- Độc tính với thính giác : Một số
trường hợp giảm thính giác có liên quan đến việc dùng vancomycin. Phần lớn
trường hợp là do người bệnh có bệnh thận từ trước hoặc có kèm theo một bệnh về
thính giác hoặc có dùng đồng thời thuốc có độc tính với thính giác. Chóng mặt,
hoa mắt, ù tai hiếm khi xảy ra.
- Ảnh hưởng trên hệ tạo máu : Giảm bạch
cầu trung tính có thể hồi phục xuất hiện trung bình 1 tuần hoặc lâu hơn nữa sau
khi dùng thuốc hoặc sau tổng liều quá 25 g, đã được ghi nhận trên hơn vài chục
người bệnh. Giảm bạch cầu trung tính hồi phục nhanh chóng ngay sau khi ngừng
dùng vancomycin. Hiếm khi giảm tiểu cầu. Chứng giảm bạch cầu hạt (đếm dưới
500/mm3) hiếm khi xảy ra, tuy nhiên có thể hồi phục, mối liên quan
giữa thuốc và chứng này chưa được xác định rõ.
- Viêm tĩnh mạch : Có thấy viêm tại nơi
tiêm.
- Các phản ứng khác : Rất hiếm xảy ra
phản ứng phản vệ, sốt do thuốc, buồn nôn, lạnh run, tăng bạch cầu ưa eosin, phát
ban (bao gồm viêm da tróc vẩy).
Hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì
nhiễm độc và hiếm khi viêm mạch máu xảy ra khi dùng vancomycin.
LIỀU LƯỢNG
Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền đều liên
quan đến nồng độ và tốc độ truyền của thuốc. Đối với người lớn, thì nồng độ
thuốc không nên quá 5mg/mL và tốc độ truyền không nên quá 10 mg/phút. Đối với
những người bệnh cần hạn chế sử dụng nước, thì có thể dùng nồng độ cao đến 10
mg/mL. Nồng độ này sẽ làm tăng nguy cơ phản ứng do dịch truyền. Tuy nhiên, các
phản ứng liên quan đến dịch truyền có thể xảy ra ở bất cứ nồng độ và tốc độ nào.
Ở người bệnh có chức năng thận bình thường
Người lớn : Liều truyền tĩnh mạch thông
thường là 2 gam/24 giờ, chia ra 500 mg cho mỗi 6 giờ hoặc 1g mỗi 12 giờ. Tốc độ
truyền mỗi liều không quá 10 mg/phút hoặc trong thời gian tối thiểu là 60 phút,
có thể kéo dài hơn. Với những yếu tố khác liên quan đến người bệnh như tuổi tác,
béo phì, cần điều chỉnh lại liều lượng mỗi ngày.
Trẻ em : Liều truyền tĩnh mạch thông
thường là 10 mg/kg cho mỗi 6 giờ. Mỗi liều nên truyền tối thiểu trong 60 phút.
Trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh : Ở trẻ nhỏ và
trẻ sơ sinh, tổng liều truyền tĩnh mạch hàng ngày có thể thấp hơn. Liều đề nghị
khởi đầu là 15 mg/kg, sau đó 10 mg/kg trong mỗi 12 giờ cho trẻ sơ sinh một tuần
lễ tuổi, và mỗi 8 giờ cho trẻ lớn hơn 1 tuần đến 1 tháng tuổi. Mỗi liều nên
truyền trên 60 phút. Cần theo dõi chặt chẽ nồng độ thuốc trong huyết thanh ở
những loại người bệnh này.
Người bệnh suy thận và người bệnh cao tuổi
Cần chỉnh liều ở người bệnh có bệnh về thận. Ở
trẻ sinh thiếu tháng và người cao tuổi, có thể cần phải giảm liều nhiều hơn, do
chức năng thận giảm. Đo nồng độ vancomycin trong huyết thanh rất cần để có
phương pháp điều trị tối ưu, đặc biệt ở người bệnh có bệnh nặng trầm trọng và
chức năng thận kém. Nồng độ vancomycin trong huyết thanh có thể đo được bằng
phương pháp vi sinh học, phóng xạ miễn dịch học, miễn dịch huỳnh quang phân cực,
miễn dịch huỳnh quang, hoặc sắc ký lỏng cao áp.
Nếu độ thanh thải creatinine có thể đo được hay
ước đoán chính xác, thì liều thuốc đối với người bệnh suy thận có thể tính được
dựa vào bảng sau đây. Liều lượng vancomycin hydrochloride (tính theo mg) sử dụng
hàng ngày gấp khoảng 15 lần tốc độ lọc cầu thận tính bằng mL/phút.
Bảng liều dùng vancomycin cho người bệnh
suy thận (Theo Moellering và cộng sự)
| Độ thanh thải creatinine |
Liều lượng |
| (mL/phút) |
(mg/24 giờ) |
| 100 |
1545 |
| 90 |
1390 |
| 80 |
1235 |
| 70 |
1080 |
| 60 |
925 |
| 50 |
770 |
| 40 |
620 |
| 30 |
465 |
| 20 |
310 |
| 10 |
155 |
Liều khởi đầu không nên 15 mg/kg, ngay cả ở
người bệnh suy thận nhẹ hoặc trung bình.
Bảng liều dùng này không nên áp dụng cho người
bệnh thận câm chức năng. Đối với những người bệnh này, nên dùng liều khởi đầu 15
mg/kg để đạt nồng độ trị liệu nhanh trong huyết thanh. Liều dùng đòi hỏi luôn
duy trì nồng độ ổn định là 1,9 mg/kg/24giờ. Đối với người bệnh suy thận nặng,
liều duy trì từ 250 đến 1 000 mg mỗi lần và cách nhiều ngày có lẽ thuận tiện hơn
cho thuốc với liều hàng ngày. Đối với người bệnh vô niệu, nên dùng liều 1 000 mg
cách 7 đến 10 ngày. Nếu chỉ biết được nồng độ creatinine trong huyết thanh, có
thể tính được độ thanh thải creatinine dựa theo công thức sau đây (căn cứ vào
giới, thể trọng và tuổi của người bệnh).
Độ thanh thải creatinine tính được cũng chỉ là
số ước lượng. Cần đo lường trị số chính xác.
Cho nam giới :
Thể trọng (kg) x (140 - số tuổi) / 72 x nồng độ
creatinine trong huyết thanh (mg/dl)
Cho nữ giới : 0,85 x trị số trên
Nồng độ creatinine trong huyết thanh phải thể
hiện tình trạng ổn định của chức năng thận, nếu không thì trị số ước lượng độ
thanh thải creatinine không có giá trị. Độ thanh thải creatinine ước lượng theo
công thức trên đây nếu cao hơn trị số thật của người bệnh, thì là do những
nguyên nhân sau : (1) Tình trạng giảm chức năng thận do những nguyên nhân như
choáng, suy tim nặng, thiểu niệu ; (2) Không có sự tương quan bình thường giữa
khối lượng cơ và thể trọng, thí dụ như ở người béo phì, có bệnh về gan, phù nề,
cổ trướng và (3) kèm suy dinh dưỡng, suy kiệt, nằm bất động lâu ngày.
Hiệu quả và tính an toàn khi dùng vancomycin
qua đường dịch não tủy (qua tủy sống hoặc não thất) chưa được xác định. Nên dùng
thuốc bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch nhỏ giọt cách quãng.
Cách pha thuốc và tính ổn định
Khi sử dụng, pha loãng chai thuốc chứa 500 mg
bột khô vô khuẩn với 10 mL nước cất pha tiêm, với chai chứa 1 g thì pha với 20
mL nước cất pha tiêm. Với cách pha này, sẽ được dung dịch có nồng độ 50 mg/mL.
Sau đó, cần pha loãng thêm nữa.
Sau khi pha xong, lọ thuốc có thể bảo quản
trong tủ lạnh 14 ngày mà không mất hiệu quả tác dụng. Dung dịch chứa 500 mg cần
được pha loãng thêm với 100 mL dung môi hoặc nếu chai 1 g cần pha thêm 200 mL
dịch pha loãng. Sau đó, thuốc được truyền nhỏ giọt ít nhất trong thời gian 60
phút.
Sự tương hợp với các dịch tiêm truyền.
Dung dịch được pha loãng với dextrose 5% hoặc
nước muối sinh lý 0,9% có thể bảo quản trong tủ lạnh 14 ngày mà không mất hiệu
quả tác dụng. Thuốc có thể để trong tủ lạnh trong 96 giờ, khi pha loãng với các
chất pha loãng sau đây:
- Dextrose 5% và sodium chloride 0,9%
- Dung dịch Lactate Ringer
- Dung dịch Lactate Ringer và Dextrose 5%
- Normosol-M và Dextrose 5%
- Isolyte E
- Dung dịch Acetate Ringer
Dung dịch vancomycin có pH thấp, có thể không
ổn định về mặt vật lý hoặc hoá học khi trộn lẫn với các hợp chất khác.
Trước khi dùng, các loại thuốc tiêm cần được
kiểm tra bằng mắt thường, để xem dung dịch có bị biến màu, vẩn đục hoặc có vật
lạ không.
Loại dùng để uống - Vancomycin dạng uống được
chỉ định trong viêm ruột kết màng giả do C. difficile và trong chỉ định viêm
ruột non - ruột kết do tụ cầu. Vancomycin dạng uống không có hiệu quả trong các
loại nhiễm khuẩn khác. Liều uống tổng cộng trong 24 giờ cho người lớn là từ 500
mg đến 2 g, chia 3-4 lần ; dùng trong 7-10 ngày. Liều tổng cộng trong 24 giờ cho
trẻ em là 40 mg/kg, chia 3-4 lần ; uống trong 7-10 ngày. Liều tổng cộng không
quá 2 gam trong 24 giờ. Thuốc có thể pha loãng với 1 oz nước để cho người bệnh
uống. Chất tạo mùi có thể trộn thêm vào cho dễ uống. Dung dịch pha loãng có thể
cho qua đường ống thông mũi dạ dày.
QUÁ LIỀU