|
A
B
C
D
E
F
G
H
I
K
L
M
N O
P
Q R S
T
U
V
W
X
Z
C
CAFFEINE
Thuốc kích thích có trong các hạt cà phê, lá
trà, hạt coca và hạt cola. Caffeine có trong thành phần một số thuốc.
Caffeine trong thức uống chỉ gây các tác dụng
phụ khó chịu như lo âu, run khi dùng một lượng lớn hoặc ở những người quá
nhạy cảm. Những người có thói quen sử dụng một lượng lớn Caffeine (hơn 5
tách cà phê mỗi ngày) quen dần với chất caffein và do đó khi muốn đạt được tác
dụng kích thích họ phải uống nhiều hơn nữa. Có khi họ bị các triệu chứng dội
ngược hay mệt mỏi, nhức đầu, cáu gắt khi họ không uống Caffeine. Vì có
hiệu quả kích thích, Caffeine được dùng cho các vận động viên tăng thành tích,
nhưng không được dùng dưới dạng viên hoặc dạng chích và ưu tiên cho các vận động
viên nghiệp dư. Đánh giá mức Caffeine trong cơ thể bằng thử nghệm nước tiểu.
Caffeine có trong thành phần nhiều loại thuốc
chẳng hạn như phối hợp với các thuốc giảm đau. Tuy nhiên các giá trị của nó chưa
rõ, vì nó không làm tăng các tác dụng giảm đau. Caffeine kết hợp với ergotamine
dùng trong điều trị dự phòng các cơn nhức nửa đầu vô căn.
|
Độ đậm đặc và cách thức pha chế liên quan
đến nồng độ caffeine trong thức uống
(tính bằng đơn vị miligam/ tách) |
|
Trà loãng |
50 |
|
Trà đậm |
80 |
|
Cà phê loãng |
80 |
|
Cà phê đậm |
200 |
|
Coca |
10-17 |
|
Cola |
43-75 |

CALAMINE
Chất màu hồng tím gồm oxy kẽm và oxyt sắt thoa
lên dưới dạng thuốc mỡ, dung dịch hoặc bột. Calamine có tác dụng bảo vệ, làm mát
và làm khô, dùng để giảm kích thích và ngứa da. Đôi khi calamine phối hợp với
thuốc mê tại chỗ , thuốc corticoid hoặc thuốc kháng sinh histamine. Băng tẩm
calamine dùng trong loét chân.
CALCITOMIN
Nội tiết tố tuyến giáp. Calcitomin điều hoá mức
calci trong máu bằng cách làm giảm tốc độ lấy calci từ xương.
Dạng tổng hợp của calcitomin dùng điều trị bệnh
paget. Trong bệnh này, xương phát triển bệnh thường, bị biến dạng, gây đau, nguy
cơ gảy xương tăng lên. Calcitomin dùng đường chích ngăn chặn sự tạo xương bất
thường trong khoảng một tuần và giảm được đau trong vài tháng.
Caicitocin còn dùng trong điều trị bệnh tăng
calci máu do tuyến cận giáp hoạt động quá mức hoặc do ung thư xương. Calcitomin
làm giảm buồn nôn và ói ở các bệnh nhân bị bệnh calci máu cao nhờ nó làm giảm
nhanh chóng mức calci trong máu. Calcitorin có thể dùng phối hợp với thuốc
corticoid để làm giảm mức calci trong máu.
Tác dụng phụ
Calcitonin thường không gây tác dụng khó chịu
nào. Các phản ứng dạ dày ruột như buồn nôn, ói tiêu chảy thường giảm đi khi tiếp
tục dùng thuốc.
CAPTOPRIL
Thuộc nhóm thuốc ức chế men chuyển , điều trị
cao huyết áp và suy tim.
CARBACHOL
Thuốc co đồng tử, tác dụng giống acetylcholin.
Dùng điều trị tăng nhãn áp.
CARBAMAZEPIN
Thuốc chống co giật, có từ năm 1960, về mặt hoá
học có mối liên hệ với thuốc chống trầm cảm 3 vòng.
Thuốc làm giảm bớt các cơn động kinh do các
tính hiệu não bất thường, chủ yếu dùng điều trị lâu dài bệnh động kinh. Tác dụng
gây buồn ngủ ít hơn so vối các loại thuốc chống co giật khác.
Carbamazepin còn dùng điều trị đau thần kinh
(các cơn đau cách hồi do tổn thương hoặc kích thích dây thần kinh). Đôi khi dùng
điều trị một số rối loạn tâm thần và hành vi như cơn hưng phấn.
Tác dụng phụ
Gây buồn ngủ, đặc biệt nếu có uống rượu.
CARBENOXOLONE
Thuốc điều trị loét dạ dày. Thuốc kích thích dạ
dày tiết ra nhiều chất nhầy tạo thành một lớp áo phủ trên niêm mạc dạ dày.
Carbennoxolon dạng viên nang đặc biệt, chỉ phóng thích chất thuốc sau khi đã qua
khỏi dạ dày. Dùng trong điều trị loét tá tràng. Carbanoxolon dạng gel điều trị
loét miệng.
Tác dụng phụ
Do thuốc làm mất kali và làm tăng natri trong
cơ thể làm nhức đầu và yếu cơ.
CARBON TETRACHLORIDE
Chất độc, dạng nước, dễ bay hơi, không màu, có
mùi đặc biệt, có trong một số dung dịch rửa nhà hoặc được làm dung môi trong
công nghiệp. Cấu tạo của Carbon Tetrachloride gồm một nguyên tử carbon kết hợp
vớ 6 nguyên tử chlor, công thức hoá học là CCL4.
Tác dụng phụ
Carbon Tetrachloride gây chóng mặt, lú lẩn, tâm
thần, tổn thương gan và thận. Triệu chứng ngô độc biểu hiện bằng đau bụng, buồn
ói, nhức đầu, co giật.
CARISOPRODOL
Chất giãn cơ, điều trị tình trạng co thắt cơ
nhẹ, đau, cứng cơ. Thuốc gây chóng mặt và buồn ngủ.
Thuốc gây chóng mặt và buồn ngủ.
CAROTENE
Sắc tố cam có trong cà rốt, cà chua và các loại
rau xanh.
Đa số carotene hấp thu từ thức ăn chuyển thành
vitamin A trong thành ruột, là một chất thiết yếu cho thị giác, da và các
cơ quan khác.
Aên quá nhiều thức ăn có chứa caroine như cà
rốt sẽ bị tăng sẽ bị tăng carotene trong máu. Tình trạng này không
nguy hiểm nhưng làm vàng da, nhất là da lòng bàn tay, bàn chân; nhưng mắt không
vàng (khác với vàng da do bệnh lý).
Khi nhưng ăn các thức ăn này, triệu chứng này
sẽ mất đi nhanh chóng.
Một số nghiên cứu gần đây cho rằng carotene có
tác dụng chống lại một số bệnh ung thư, nhưng điều này vẫn chưa được chứng minh.
CEPHALOSPORIN
Thuốc thông dụng
Cefaclor, Cefadroxil, Cefamanfole, Cefazolin,
Cefotoxamine, Cefuxomime, Cephalexin, Cephradine.
Nhóm thuốc kháng sinh chiết xuất từ nấm
Cephalosporium acremonium. Thuốc Cephalosporin được phát hiện đầu tiên ở
sardinia vào năm 1948. sau đó, người ta sản xuất ra rất nhiều thuốc
cephalosporin tổng hợp, các thuốc mới có phổ diệt trùng rất rộng. Một số
cephalosporin chỉ có tác dụng khi dùng dưới dạng chích.
Cephalosporin dùng rộng rãi trong điều trị
nhiễm trùng ở tai, họng và đường hô hấp. Cephalosporin dùng trong điều trị
nhiễm trùng tiểu (do nhiễm các loại vi khuẩn đã kháng với kháng sinh loại
penicilin), điều trị lậu (khi kháng với kháng sinh khác). Cephalosporin
dùng sau mổ có tác dụng ngừa nhiễm trùng vết mổ.
Thuốc có thể dùng thay thế khi bệnh nhân bị dị
ứng với penicillin. Tuy nhiên có khoảng 10% bệnh nhân bị dị ứng với penicillin
cũng bị dị ứng với Cephalosporin.
Cephalosporin ngăn cản sự phát triển của màng
tế bào vi khuẩn, ngăn cản sự tổng hợp pritein bên trong vi khuẩn. Do đó vi khuẩn
không hoạt động được và bị chết. Tuy nhiên, một số vi khuẩn sản xuất ra
một loại men gọi là men bê ta –lactamase làm bất hoạt một số Cephalosporin thế
hệ cũ. Các thuốc mới gần đây không làm men này bị bất hoạt.
Tác dụng phụ
Một số người bị dị ứng, nổi mẩn, ngứa, sốt.
Cũng có thể gây sốc phản vệ nhưng hiếm.
CEFACLOR
Thuốc kháng sinh thuộc họ Cephalosporin
CEPHALEXIN
Thuốc kháng sinh thuộc họ Cephalosporin.
CHLORAL HYDRATE
Thuốc gây ngủ lâu đời nhất vẫn còn được sử
dụng. Dùng thuốc để điều trị ngắn hạn chứng mất ngủ ở người lớn.
CHLORAMBUCIL
Thuốc chống ung thư, điều trị một số loại
ung thư như bệnh Hodgkin và ung thư buồng trứng.
CHLORAMPHENICOL
Thuốc kháng sinh dùng rộng rãi dưới dạng thuốc
nhỏ mắt, hoặc dưới dạng thuốc mỡ điều trị viêm kết mạc do nhiễm trùng.
Chloramphenicol dạng viên uống hay dạng chích
có nguy cơ gây tình trạng thiếu máu bất sản tuỷ xương, nên chỉ dùng điều trị các
tình trạng nhiễm trùng nặng nề đã đề kháng với các loại kháng sinh khác.
CHLORDIADEPOXIDE
Nhóm thuốc benzodiazepine, chủ yếu điều trị
tình trạng lo lắng , hoặc dùng điều trị tình trạng khó chịu do cai rượu.
CHLORHEXIDINE
Một loại thuốc sát trùng. Chlorhexidine dùng
rộng rãi để rửa da trước khi phẫu thuật hoặc trước khi lấy máu thử. Cũng được
dùng để rửa bàng quang trong điều trị nhiễm trùng tiểu ở bệnh nhân đặt thông
tiểu dài ngày.
Chlorhexidine có khi gây kích thích da. Rửa
bàng quang với dung dịch đậm đặc có thể gây tiểu máu.
CHLORINE
Hơi độc, màu xanh hơi vàng, có tình tẩy và sát
trùng mạnh. Hít một lượng nhỏ cũng đủ gây kích thích phổi; hít một lượng lớn gây
chết người.
CHLOROFORM
Dung dịch không màu, sinh ra hơi có tác dụng
gây mê. Vì gây tổn thương gan và gây các rối loạn trên tim nên chloroform
đã được thay thế bằng các thuốc khác an toàn hơn.
Chloroform hiện vẫn còn được dùng trong cấp cứu
ở một số nước.
Đôi khi người ta dùng chloroform để thêm mùi và
bảo quản một số thuốc, mặc dù các nghiên cứu gần đây cho rằng nó là một chất
sinh ung.
CHLOROQUINE
Thuốc ngăn ngừa và điều trị sốt rét. Có khi
dùng điều trị thấp.
Nếu dùng điều trị sốt rét, thường phải kết hợp
với các thuốc khác, vì một sối loại ký sinh trùng sốt rét đã kháng chloroquine
vẫn còn là thuốc chính điều trị cơn số rét cấp tính.
Cholroquine còn dùng trong điều trị viêm khớp
dạng thấp và bệnh lupus đỏ khi không đáp ứng với các thuốc khác.
Tác dụng phụ
Buồn nôn, nhức đầu, tiêu chảy, nổi mẫn , đau
bụng. Nếu điều trị kéo dài có thể làm tổn thương võng mạc, nhìn mờ, đôi khi gây
mù; do đó phải khám mắt thường xuyên để phát hiện sớm.
CHLORPHENIRAMINE
Thuốc kháng histamin điều trị dị ứng như viêm
mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, mề đay, phù mạch (sưng mạch do dị ứng).
Chlorpheniramine là thành phần của một số thuốc điều trị cảm.
CHLORPROMAZINE
Thuốc ức chế tâm thần. Có mặt trên thị trường
từ những năm 50, vẫn còn là loại thuốc dược dùng rộng rãi. Đôi khi dùng với tác
dụng chống nôn.
Dùng đầu tiên trong điều trị bệnh tâm thần phân
liệt, các cơn hưng cảm, các rối loạn tâm thần khác như các hành vi bất thường.
Thuốc không chữa được nguyên nhân, chỉ làm giảm triệu chứng. cholorpromazine làm
giảm triệu chứng hoang tưởng và ảo giác, giảm kích thích và kích động trong cơn
hưng cảm. Chlorpromazine còn dùng điều trị buồn nôn và ói, nhất là ói do
thuốc, xạ trị hay gây mê.
Tác dụng phụ
Có thể gây các tác dụng phụ nặng như hội chứng
parkinson, phản ứng chậm chạp, nhìn mờ. Cũng có thể gây tình trạng nhạy cảm với
ánh sáng (da tăng nhạy cảm với ánh sáng).
CHLORPROPAMIDE
Thuốc điều trị bệnh tiểu đường không lệ thuộc
Insulin (xem thuốc hạ đường huyết uống)
CHLORTHALIDONE
Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide tác dụng mạng và
kéo dài. Thuốc giúp cơ thể thải muối và nước qua nước tiểu nên được dùng trong
điều trị phù và cao huyết áp. Thuốc cùng làm giảm calci trong nước tiểu nên được
dùng điều trị sỏi thận.
Thuốc cũng làm mất kali qua nước tiểu, gây rối
loạn nhịp tim. Do đó khi dùng thuốc, thường bổ sung thêm kali.
CHOLESTYRAMINE
Thuốc hạ lipid máu dùng trong điều trị một số
loại bệnh tăng lipid máu. Cholestyramine làm giảm tải hấp thu muối mật từ ruột
non. Lượng muối mật trong máu giảm xuống, kích thích gan phải tăng tạo muối mật
từ cholesterol, do đó làm giảm lượng cholesterol trong máu.
Cholestyramine cũng dùng điều trị tiêu chảy do
rối loạn tiêu hoá chất mỡ như bệnh Crohn.
CIMETIDINE
Thuốc ức chế thụ cảm H2 dùng điều trị loét dạ
dày tá tràng, có mặt trên thị trường từ năm 1976. thuốc làm dạ dày giảm tiết
acid chlorhydric, do đó, giúp làm lành các vết loét ở dạ dày và tá tràng, giảm
tình trạng viêm ở thực quản.
Cimetidine thường làm giảm triệu chứng trong
vòng 1 – 2 tuần lễ và làm lành ổ loét sau 1-2 tháng trong 75% trường hợp. Khi ổ
loét đã lành, nên tiếp tục duy trì cimetidine thêm một thời gian nữa để tránh
tái phát.
Lưu ý: cimetidine có thể làm giảm trạm thời các
triệu chứng của ung thư dạ dày, làm chuẩn đoán bị chậm trễ. Do đó, không được
cho dùng cimetidine quá 2 tháng, trừ phi đã loại trừ được ung thư dạ dày bằng
nội soi hay bằng chụp X quang dạ dày có cản quang.
Tác dụng phụ
Cimetidine ngăn cản quá trình chuyển hoá một số
thuốc tại gan như thuốc chống đông, thuốc chống động kinh. Một số bệnh nhân dùng
cimetidine bị lú lẩn, chóng mặt, nhức đầu. Các tác dụng phụ mất đi khi ngưng
thuốc.
CISPLATIN
Thuốc chống ung thư, điều trị một số bệnh ung
thư buồng trứng và tinh hoàn. Có thể dùng một mình hay phối hợp với cá thuốc
khác.
CLINDAMYCIN
Thuốc kháng sinh có nhiều tác dụng phụ nên chỉ
dùng điều trị các trường hợp nhiễm trùng nặng không đáp ứng với các loại kháng
sinh khác.
CLOFIBRATE
Thuốc hạ lipid máu điều trị tình trạng tăng
cholesterol và triglyceride trong máu.
CLOMIPHENE
Thuốc điều trị vô sinh không rụng trứng. Đôi
khi có thê gây đa thai.
Bình thường quá trình rụng trứng xảy ra do kích
thích của hai nội tiét tố hướng sinh dục (nội tiết tố kích thích nang trứng và
nội tiết tố hoàng thể hoá) giải phóng từ tuyến yên, dưới sự điểu khiển của vùng
hạ đồi.
Không rụng trứng là nguyên nhân gây vô sinh
thường gặp nhất. Thường do cơ thể sản xuất quá ít nội tiết tố hướng sinh dục.
Clomiphene ngăn chặn tác động của nội tiết tố estrogen trên vùng hạ đồi. Bình
thường estrogen làm giảm phóng thích các nội tiết tố hướng sinh dục từ tuyến
yên. Do đó, khi tăng sản xuất các nội tiét tố hướng sinh dục sẽ kích thích quá
trình rụng trứng. Đôi khi, kết hợp clominphene với nội tiết tố hướng sinh dung
trong điều trị vô sinh.
Tác dụng phụ
Cơn bốc hoả, buồn nôn, ói, nhức đầu, đau ngực,
có khi bị mờ mắt. Các tác dụng phụ sẽ giảm nếu dùng liều thấp hơn hoặc dùng phối
hợp với nội tiết tố hướng sinh dục. 5 – 15% bệnh nhân bị đa nang buồng trứng do
thuốc. Các nang này nhỏ đi nếu giảm liều thuốc.
CLOMIPRAMINE
Thuốc chống trầm cảm ba vòng, dùng điều trị lâu
dài chưng trầm cảm. Clomipramine ít có tác dụng gây ngủ, rất có lợi trong
điều trị trầm cảm kèm lo lắng phi lý và các hành vi ám ảnh.
Tác dụng phụ
Khô miệng, nhìn mờ, táo bón. Nếu uống quá liều
có thể bị loạn nhịp tim và hôn mê.
CLONAZEPAM
Thuốc nhóm benzodiazepine chủ yếu dùng trong
điều trị và ngăn ngừa các cơn động kinh. Thuốc đặc biệt có hiệu quả khi
dùng ngăn ngừa cơn động kinh nhỏ ở trẻ em.
Tác dụng phụ
Buồn ngủ, chóng mặt và dễ bị kích thích.
CLONIDINE
Thuốc hạ huyết áp làm giả các xung động thần
kinh từ não đến tim và hệ tuần hoàn.
Nếu dùng clonidine liều cao và ngừng thuốc đột
ngột, hoặc quên uống thuốc có thể bị tăng huyết áp rất nguy hiểm. Đôi khi bị
tăng huyết áp khi dùng với thuốc ức chế be ta.
Tác dụng phụ
Hay gặp ở người dùng thuốc liều cao như buồn
ngủ, khô miệng, bón. Các tác dụng này sẽ giảm khi tiếp tục điều trị hoặc phải
giảm liều thuốc.
CLORAZEPATE
Thuốc nhóm benzodiazepine, điều trị lo lắng bồn
chồn. Thuốc gây buồn ngủ, chóng mặt, nếu dùng dài ngày có thể bị nghiện thuốc.
CLOTRIMAZOLE
Thuốc điều trị nấm, nhất là nhiễm nấm candidas.
CLOXACILLIN
Thuốc kháng sinh họ penicillin điều trị nhiễm
trùng do Staphylococus.
COBALAMIN
Phức chất chứa cobalt, là một phần của sinh tố
B12.
COBALT
Chất kim loại, là thành phần cấu tạo của sinh
tố B12. chất đồng vị phóng xạ Cobalt dùng trong xạ trị.
COCAINE
Thuốc trích từ lá cây Erythroxylon coca.
Coain trước dây được dùng để gây tê tại chỗ,
chủ yếu là các phẫu thuật trên mắt, tai,mũi,họng. Có khi người ta xịt cocain vào
cổ họng trước khi làm nội soi phổi hoặc dạ dày. Do bị lạm dụng quá nhiều, nên
cocain được thay thế bằng một loại thuốc tê tại chỗ khác.
Tác dụng gây tê rất nhanh, kéo dài khoảng một
giờ. Cocain làm co mạch, do đó càng có tác dụng khu trú. Tuy nhiên, do một ít
cocain được hấp thu vào máu, ngăn chận dẫn truyền thần kinh trong não gây ra
trạng thái sảng khoái và tăng lực.
Lạm dụng
Do tác dụng trên não,nên cocain dễ bị lạm dụng.
Hít cocain đều đặc làm tổn thương niêm mạc đường hô hấp. Nếu tiếp tục dùng có
thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc thuốc. Dùng liều cao có thể bị loạn tâm
thần. Quá liều có thể bị động kinh hoặc ngưng tim. Dạng cocain nguyên chất
có tác dụng nhanh, mạnh nhưng cũng mau hết, có thể gây chết do tác dụng phụ lên
tim.
CODEINE
Thuốc giảm đau gây ngủ, trích từ cây thuốc
phiện. Codeine không mạnh như các thuốc giảm đau gây ngủ khác, thường dùng dưới
dạng phối hợp với các giảm đau khác.
Codeine dùng cac cơn đau nhẹ và trung bình; có
trong thành phần thuốc trị ho vì có tác dụng lên não chi phối phản xạ ho; hoặc
dùng điều trị tiêu chảy vì tác dụng làm giảm co cơ đường tiêu hoá.
Tác dụng phụ
Gây chóng mặt, buồn ngủ, nhất là khi uống với
rượu. Khi dùng kéo dài có thể gây táo bón và nghiện thuốc.
COLCHICINE
Thuốc trích từ hoa cây nghệ tây. Được dùng từ
thế kỷ thứ 19 để trị thống phong (bệnh gút). Mặc dù hiện nay đã có nhiều loại
thuốc khác thay thế (vì colchicine có nhiều tác dụng phụ), nhưng
người ta vẫn tiếp tục dùng colchicine trong điều trị các cơn gút cấp tính và
giảm bớt số cơn.
COLISTIN
Thuốc kháng sinh thuộc nhóm polymyxin, dùng
điều trị các nhiễm trùng nặng đề kháng với các kháng sinh khác, có nguy cơ gây
tổn thương thận và thần kinh.
CORTICOSTEROID
Là nhóm thuốc thuộc loại nội tiết tố được
sản xuất từ tuyến thượng thận, điều khiển việc dùng dưỡng chất của cơ thể
và bài tiết muối, nước qua đường tiểu.
Các loại thông thường
Beclomethason, betamethasone, cortisone,
dexamethasone, fludrocortisone, hydrocortisone, prednisolone, prednisone.
Khuyến cáo
Việc ngưng thuốc này đột ngột có thể gây bệnh
nặng và chết. Nếu bạn đang dùng hay gần đây bạn đã dùng loại thuốc này, bạn phải
báo cho bác sĩ biết. Thuốc corticosteroid là nhóm thuốc giống kích thích tố
corticosteroid của cơ thể do tuyến thượng thận tiết ra.
Thuốc corticosteroid được sử dụng như một liệu
pháp thay thế kích thích tố cho những bệnh nhân thiếu kích thích tố
corticosteroid (gây bệnh addision), sau khi cắt bỏ tuyến thượng thận hoặc khi
tuyến yên bị tổn thương do bệnh, phẫu thuật, hoặc chiếu xạ.
Người ta dùng corticosteroid trong điều trị
chứng viêm ruột non và bệnh viêm loét đại tràng. Trong bệnh viêm động mạch thái
dương, cần phải điều trị khẩn bằng corticoid để giảm viêm ở động mạch cung cấp
máu cho võng mạc, nhờ đó tránh được mù mắt.
Một số các bệnh khác cũng được dùng
corticosteroid để cải thiện tình trạng như bệnh suyễn, viêm khớp dạng thấp ,
chàm, viêm mống mắt và viêm mũi dị ứng. Tiêm corticosteroid qua một cân cơ
hoặc khớp bị đau để giảm đau như trong bệnh khuỷu tay quần vợt và viêm khớp.
Ngoài ra, chứng còn được dùng để làm suy giảm
hệ thống miễn dịch để phòng ngừa tình tình trạng thải ghép và cũng được dùng
điều trị vài trường hợp ung thư như ung thư hạch bạch huyết và ung thư máu.
Tác dụng phụ
Phạm vi và mức độ trầm trọng của bất kỳ một tác
dụng phụ nào đều phụ thuộc vào liều dùng, dạng thuốc dùng và thời gian điều trị.
Tác dụng phụ ít xảy ra khi cho thuốc dạng mỡ
hoặc dạng xịt vì chỉ có một lượng nhỏ được hấp thu vào máu. Nếu cho dạng
viên nén, liều cao, thời gian dài sẽ gây phù, tăng huyết áp, tiểu đường, loét
đường tiêu hoá, hội chứng cushing, chứng rậm lông ở phụ nữ, chậm phát triển ở
trẻ em và các trường hợp hiếm hơn, gây đục thuỷ tinh thể hoặc chứng loạn tâm
thần. Dùng liều cao sẽ dễ bị nhiễm trùng do phá huỷ hệ thống miễn dịch.
Điều trị bằng corticoid lâu ngày sẽ làm giảm
sản xuất ACTH của tuyến yên do đó làm giảm nội tiết tố corticoid của tuyến
thượng thận. Việc ngưng thuốc đột ngột sẽ gây đột quỵ, hôn mê và chết.

CORTISONE
Là loại thuốc corticosteroid tổng hợp,
dùng để giảm viêm trong trường hợp dị ứng nặng, bệnh thấp khớp và bệnh mô liên
kết. Ngoài ra nó còn được dùng để thay thế nội tiết tố trong bệnh Addision
(là bệnh thiếu nội tiết tố corticosteroid ) và sử dụng sau khi cắt tuyến thượng
thận.
CO-TRIMOXAZOLE
Là loại thuốc kháng sinh kết hợp giữa
trimethoprim và Sulfamethoxazole. Co-Trimoxazole thường được dùng để điều trị và
phòng ngừa bệnh nhiễm trùng đường tiểu và để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp,
đường tiêu hoá, da và tai. Còn được dùng để điều trị viêm tiền liệt tuyến, bệnh
lậu, viêm bàng quang, viêm phổi.
Tác dụng phụ
Buồn nôn, nôn, đau lưỡi,phát ban và hiếm hơn,
có thể rối loạn về máu và vàng da.
CURA,NHỰA
Được chế biến từ vỏ cây và nước quả của nhiều
loại trái cây khác nhau mà người Nam Trung Mỹ dùng để làm tên độc trong nhiều
thế kỷ. Các thành phần chính là tubocurarin, một loại dược phẩm ức chế sự co cơ
bằng cách hạn chế sự hoạt động của acetylcholin, chất dẫn truyền thần kinh (chất
hoá học được phóng thích từ đầu tận cùng của dây thần kinh). Nhực độc cura giết
người bằng cách làm liệt cơ hoàn toàn.
CYANIDE
là một nhóm chất chứa nguyên tử C và nguyên tử
N nối với nhau bằng ba mối liên kết hoá học (C=N) hầu hết các cyanide đều có độc
tính cao vì nó ức chế một men đặc biệt cytochrome oxidase là loại men tham
gia vào chu trình thiết yếu để cung cấp oxy cho tế bào, phản ứng chạn này
làm cho tế bào mất khả năng sử dụng oxy, từ đó làm gia tăng cac triệu chứng khó
thở , do liệt cơ hô hấp và bất tỉnh sau đó là chết.
Vì độc tính của chúng, nên việc sử dụng cyanide
trong công nghiệp (mạ điện, “làm cứng bề mặt”, khai thác mỏ vàng, tạo chất trùng
hợp) phải được kiểm soát cẩn thận. Hydrogen cyanide có thể giết loài gậm
nhấm , xông khói khử trùng. Một số cyanide khác gây kích thích mắt và được
dùng đề làm chảy nước mắt.
CYANOCOBALAMIN
Tên của sinh tố B12
CYCLOBENZAPRINE
Là loại thuốc giãn cơ có cấu trúc hoá học
tương tự như trycyclic, một loại thuốc chống trầm cảm. Chủ yếu được dùng để điều
trị tình trạng đau cơ dữ dội do chấn thương.
CYCLOPHOSPHAMIDE
Loại thuốc chống ung thư, chủ yếu trong điều
trị ung thư vú, bệnh Hodgkin và ung thư máu và thường được kết hợp với các
lo::1i6:: thuốc ung thư khác. Ngoài ra Cyclophosphamide còn được dùng như một
loại thuốc ức chế miễn dịch để phòng ngừa hiện tưởng thải ghép. Đôi khi được
điều trị bệnh mô liên kết như bệnh lupus ban đỏ hệ thống.
Tác dụng phụ
Cũng giống như loại thuốc chống thư khác, có
thể gây một dạng viêm bàng quang nặng.
CYCLOOSPORINE
Loại thuốc ức chế miễn dịch, để ức chế sự chống
đỡ tự nhiên của cơ thể đối với các tế bào bất thường. Cycloosporine được sự dụng
từ năm 1984.
Tác dụng ức chế miễn dịch của Cycloosporine đặc
biệt có hiệu quả sau phẫu thuật ghép mô khi cơ thể có hiện tượng thải bỏ cơ quan
ghép (trừ phi hệ thống miễn dịch bị suy giảm). Cycloosporine ngày nay được sử
dụng rộng rãi trong nhiều loại phẫu thuật mô khác nhau, gồm ghép tim, thận, tuỷ
xương, gan và tuỵ. Thuốc làm giảm nguy cơ thải ghép nên không cần dùng
corticosteroid liều cao. Việc uống Cycloosporine trong khoảng thời gian không
xác định sau phẫu thuật ghép mô cũng rất cần thiết.
Tác dụng phụ
Vì Cycloosporine làm giảm hiệu quả của hệ thống
miễn dịch, nên người điều trị bằng thuốc này rất dễ bị nhiễm trùng. Do đó khi có
bất kỳ một tình trạng bệnh nào ví dụ bệnh cúm hoặc nhiễm trùng tại
chỗ cẩn phải được điều trị kịp thời.
Sưng nướu và tăng mọc lông là phản ứng phụ
thường thấy. Cycloosporine còn gây tổn thương thận ở một vài người . do đó cần
thiết phải kiểm tra thường xuyên chức năng thận đối với bệnh nhân dùng
thuốc này. Nếu có dấu hiệu thận bị tổn thương như có protein niệu thì phải giảm
liều Cycloosporine hoặc dùng thuốc khác thay thế.
CYPROTERONE ACETATE
Là loại nội tiết tố tổng hợp ức chế các hoạt
dộng của nội tiết tố androgen (nội tiết tố sinh dục nam) Cyproterone
Acetate có tác dụng tương tự nội tiết tố sinh dục nữ – progesterone. Cyproterone
Acetate dùng để điều trị ung thư tiền liệt tuyến. Đôi khi còn được dùng để làm
giảm hoạt động sinh dục nam. Cyproterone Acetate kết hợp với thuốc Cyproterone
Acetate kết hợp với thuốc estrogen để điều trị mụn trứng cá và chứng rậm lông ở
phụ nữ.
Tác dụng phụ
Thường giảm đi khi tiếp tục điều trị , gồm tăng
tức ngực và tăng cân.
|