Phụ nữ có thai vào tháng thứ 6 đều cần phải được tầm soát trước về virus viêm
gan.
Trên thế giới ước tính có khoảng 2 tỉ người nhiễm virus viêm gan B, gọi tắt
là HBV. Trong số 250 triệu người nhiễm HBV mạn tính của châu Á - Thái B́nh
Dương th́ Việt Nam chiếm tới 10 - 14%. Hiện Việt Nam thuộc nhóm các nước có
tỷ lệ mắc viêm gan B cao của thế giới (từ 8 - 12%). Trong đó, 10 - 15% nhiễm
virus viêm gan B có diễn biến thành viêm gan mạn tính, sau đó khoảng 25%
thành xơ gan và 80% dẫn tới ung thư gan.
HBV (hepatitis B virus) là loại virus duy nhất có cấu trúc AND có khả năng
lây truyền chủ yếu qua đường máu, đường t́nh dục và mẹ truyền sang con. Khả
năng lây lan của HBV mạnh gấp 100 lần virus HIV. V́ vậy, chỉ cần một xây xát
nhỏ trên da và niêm mạc khi tiếp xúc với máu người nhiễm virus (kim tiêm,
kim châm cứu, dụng cụ y tế, cắt móng tay, bàn chải đánh răng...) cũng là lối
vào rất thuận lợi cho mầm bệnh.
Tuy nhiên, không phải ai nhiễm virus HBV cũng đều trở thành người bệnh.
Điều này c̣n tùy thuộc vào khả năng tự bảo vệ của từng cơ thể. Có nhiều
người đă chung sống với HBV cả đời nhưng không hề bị viêm gan. Thời gian ủ
bệnh trung b́nh từ 1,5 - 3 tháng và có khả năng trở thành mạn tính (5% ở
người lớn và 100% ở trẻ em). Ngoài các biểu hiện lâm sàng dễ nhận thấy (đau,
sốt, vàng da), việc chẩn đoán bệnh chủ yếu phải căn cứ vào các xét nghiệm
huyết thanh.
Pḥng bệnh và điều trị
- Tiêm chủng vaccin: Sau khi tiêm vaccin, để đánh giá được hiệu quả bảo
vệ của chúng cần làm xét nghiệm anti-HBsAg để phát hiện kháng thể chống
virus đă được h́nh thành. Khi người bệnh xét nghiệm HbsAg(+) th́ không được
tiêm vaccin nữa. Hiện Việt Nam đă có vaccin viêm gan thế hệ III mới nhất
Sci-B-Vac có độ an toàn và tính hiệu quả cao hơn trước rất nhiều.
- Tuyệt đối không dùng chung các dụng cụ có thể gây xây xát da, niêm mạc
(dao cạo, bàn chải răng, dụng cụ y tế... hoặc truyền máu) để tránh lây lan
từ người bệnh.
- Quan hệ t́nh dục có bảo vệ có thể ngăn chặn sự lây nhiễm HBV.
Khi nhiễm bệnh, cần tăng cường sức khỏe và tính đề kháng của cơ thể bằng
chế độ ăn. Việc điều trị chủ yếu là ngăn chặn sự sinh sôi, nhân lên của
virus hoặc các chất làm rối loạn quá tŕnh tổng hợp, tự nhân lên của virus.
Trong điều trị, các loại thuốc thường được sử dụng là thuốc có tác dụng điều
ḥa cơ chế miễn dịch; bảo vệ và tăng cường chức năng gan (như Artichaux,
Methionin, Arginin, Ornithine Silymarin, Nissen, Omitan, các vitamin B, C,
E...).
Hiện nay các loại thuốc mới như Zeffix, Hepsera (10 mg/ngày), VEGF-1,
HAP... có tác dụng tốt chống lại viêm gan B mạn tính và tương đối rẻ hơn.
Các bài thuốc cổ truyền:
+ Thuốc nam Siro Hebevera với thành phần chủ yếu là cây chó đẻ răng cưa,
cà gai leo đă góp phần chữa khỏi được 27 - 59% người bị nhiễm HBV.
+ LIV-94 là loại thuốc bổ gan tiêu độc hoàn toàn từ dược liệu Việt Nam đă
được thử nghiệm thành công và bắt đầu được áp dụng rộng răi trong việc điều
trị viêm gan.
- Hạn chế uống rượu v́ rượu không những gây ra xơ gan mà c̣n hỗ trợ quá
tŕnh sao chép, sinh sản của virus viêm gan nên làm tăng nhanh số lượng
virus có trong máu và làm giảm khả năng chịu đựng của tế bào gan trước sự
tấn công của virus.
Bệnh viêm gan là một loại bệnh khó chữa khỏi và để lại nhiều di chứng về
lâu dài nên việc pḥng ngừa là điều vô cùng quan trọng. Virus viêm gan có
thể lây truyền được cho trẻ qua nhau thai của người mẹ. Do vậy, nếu mẹ bị
viêm gan th́ chưa nên sinh con. Trường hợp có thai rồi mới nhiễm bệnh th́
cần sử dụng các biện pháp tiêu diệt virus hữu hiệu hơn v́ tỷ lệ lây cho con
là 44 - 94%.
Ts Bùi Mạnh Hà