NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ CÚM
GIA CẦM
Định nghĩa
Bệnh cúm gà
Có ít nhất 15 typ khác nhau của
cúm gà mà thường nhiễm ở các loài lông vũ trên toàn thế giới. Vụ dịch đầu năm
2004 do chủng H5N1, có khả năng lây rất cao ở loài có lông vũ và gây chết rất
nhanh. Không giống như nhiều chủng khác của virus cúm gà khác, H5N1 có thể lây
nhiễm sang người, gây bệnh nặng và tử vong.
Virus cúm rất không ổn định và có
khả năng đột biến rất nhanh, có khả năng lây nhiễm từ động vật này sang động vật
khác. Các nhà khoa học lo ngại là virus cúm gà có thể tiến hóa thành một dạng dễ
lây từ người sang người, làm lây bệnh nhanh chóng và là một bệnh nguy hiểm chết
người. Điều này có thể xảy ra nếu một người nào đó đă bị nhiễm virus cúm người
sau đó lại nhiễm virus cúm gà. 2 loại virus này sẽ tái tổ hợp trong cơ thể bệnh
nhân, gây ra một virus lai có thể lây lan nhanh từ người sang người.
Loại virus lai này loài người
chưa bao giờ tiếp xúc v́ vậy không có miễn dịch và có thể gây đại dịch như đă
xảy ra đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918-1919 đă giết chết 40-50 triệu người
trên toàn thế giới.
Triệu chứng
Bệnh cúm có nhiều thể lâm sàng.
Thể thường gặp là: sau thời gian nung bệnh ngắn, khoảng một ngày, ít khi tới vài
ngày, bệnh phát rất đột ngột: sốt, rét run nhiều lần trong ngày, thân nhiệt tăng
lên 39-40oC ngay ngày đầu, kéo dài 3-5 ngày, kèm theo là mệt mỏi, đau nhức toàn
thân, đau đầu như búa bổ, đau các cơ xương, khớp, chân tay ră rời, da khô nóng,
mặt bừng bừng, mắt chói, chảy nước mắt, sổ mũi, ngạt mũi, đau rát họng, có khi
ho tức ngực, khạc đờm hoặc chảy máu cam, miệng đắng buồn nôn, táo bón. Xét
nghiệm máu: bạch cầu giảm c̣n 4-5000/mm3, lympho bào tương đối tăng trong công
thức bạch cầu. Sau thời gian đó, nhiệt độ giảm dần, có thể hạ nhanh xuống b́nh
thường rồi vọt lên một ngày, gọi là nhiệt độ dạng V cúm. Đồng thời các triệu
chứng toàn thân dịu dần trong 5-7 ngày. Ở một số bệnh nhân cao tuổi, mệt nhược
kéo dài, sự b́nh phục chậm.
Trong vụ dịch cúm, c̣n nhiều thể
không rơ triệu chứng hoặc thể nhẹ giống như cảm lạnh: không sốt, chỉ hắt hơi, sổ
mũi, ho, có thể gặp thể nặng, rất nặng do biến chứng hô hấp, tim mạch thần kinh.
Biến chứng hô hấp là chủ yếu và
nặng nhất: viêm phổi tiên phát và thứ phát. Viêm phổi tiên phát do bản thân
virus cúm là nặng đặc biệt: nhiệt độ không giảm vào ngày 3-5 mà tiếp diễn, kèm
khó thở, thở gấp, tím tái, khạc đờm có khi lẫn máu, nhanh chóng dẫn đến suy hô
hấp, suy tuần hoàn, rồi tử vong. Biến chứng đó gặp trong một số đại dịch. Nếu
virus đột biến và phối hợp với virus cúm người, virus mới sẽ lây từ người sang
người như sự lây lan virus cúm người (1918, 1957, 1970, và năm 2004), ở một số
đối tượng mắc bệnh mạn tính về tim hoặc phụ nữ có thai. Viêm phổi thứ phát do vi
khuẩn bội nhiễm gây nên liên cầu, phế cầu, heamophilus influenzae, tụ cầu vv...,
gặp ở những đối tượng có nguy cơ cao, người cao tuổi, mắc bệnh mạn tính về phổi,
tim, thận, thể hiện như sau: bệnh cúm dịu được 2-3 ngày lại thấy thân nhiệt
tăng, ho, thở gấp với các triệu chứng đông đặc phổi, khám và xét nghiệm máu thấy
bạch cầu máu tăng tăng 10-15.000/mm3, bạch cầu trung tính tăng.
Bệnh cúm ác tính hiếm gặp, nhưng
tử vong cao, khởi đầu như cúm thường gặp, rồi xuất hiện chứng suy hô hấp do phù
phổi cấp tính gây tử vong nhanh do thiếu oxy máu không khắc phục được.
Triệu chứng của bệnh cúm gà:
Cúm gà có thể gây một loạt các
triệu chứng ở người. Một số bệnh nhân có sốt, ho, đau họng và đau cơ. Một số
người khác bị đau mắt, viêm phổi, bệnh hô hấp cấp nguy kịch và các biến chứng
nặng nguy hiểm
Chẩn đoán
Mặc dù các xét nghiệm đặc hiệu để
xác định chủng virus cúm từ các mẫu từ đường hô hấp, điển h́nh các bác sĩ dựa
trên một loạt các triệu chứng và sự có mặt của cúm ở cộng đồng để chẩn đoán. Các
xét nghiệm đặc hiệu được dùng để xác định typ của cúm ở cộng đồng, nhưng có
chút ít tác dụng trong điều trị. Các bác sĩ có thể thực hiện xét nghiệm như là
ngoáy họng để xác định nhiễm trùng thứ phát.
Biến chứng viêm phổi do virus:
dựa vào h́nh ảnh Xquang thấy phổi mờ
Điều trị
Điều cốt yếu điều trị cúm phải
theo một lịch tŕnh. Các triệu chứng cúm có thể giảm khi nằm nghỉ ngơi và giữ
nước tốt. Xông có thể làm dễ thở hơn và các thuốc giảm đau sẽ làm giảm đau. Tuy
chán ăn nhưng cần phải cố gắng ăn nhiều chất dinh dưỡng. Việc phục hối sức khỏe
không nên thúc đẩy quá nhanh. Việc trở lại các hoạt động b́nh thường quá nhanh
có thể gây tái phát bệnh hoặc các biến chứng.
Bất kỳ ai khi có những triệu
chứng kể trên cần nghĩ đến việc ḿnh đă có thể bị mắc bệnh viêm phổi do virus và
cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán, và cấp cứu kịp thời.Bệnh viêm
phổi do virus là căn bệnh nguy hiểm, hiện nay chúng ta chưa có Vacxin để pḥng
bệnh. Sau đây là 4 biện pháp pḥng tránh bệnh viêm phổi:
* Biện pháp 1: Vệ
sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống.
Vệ sinh cá nhân như rửa mặt, mũi,
chân tay cần thực hiện ít nhất 2-3 lần/ngày. Sử dụng các loại thuốc sát khuẩn
đường hô hấp trên để nhỏ mũi và súc họng 2-3 lần/ngày. Vệ sinh ăn uống bằng cách
không sử dụng các loại thịt gia súc từ gia cầm đă mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh.
* Biện pháp 2: Hạn
chế tiếp xúc với nguồn bệnh.
Khi tiếp xúc với nguồn bệnh phải
được trang bị bảo hộ, các trang bị bảo hộ gồm: mặt nạ, áo choàng, găng tay,
mũ... Các trang bị bảo hộ đều phải được sản xuất theo tiêu chuẩn kỹ thuật đảm
bảo ngăn ngừa sự xâm nhập của virus vào cơ thể con người, tuy nhiên khi không có
các trang bị bảo hộ th́ vẫn có thể thay thế bằng các trang bị đơn giản khác. Mặc
dù cho đến nay, chúng ta vẫn chưa t́m ra bằng chứng cho thấy bệnh viêm phổi do
virus có thể lây truyền từ người này sang người khác, thế nhưng việc trang bị
bảo hộ đối với các nhân viên y tế khi vào vùng có dịch cúm gia cầm và những
người dân sống trong vùng dịch vẫn hết sức cần thiết. Theo quy định của Bộ Y tế,
trong một số trường hợp nhất định, một số trang bị bảo hộ sẽ được nhân viên y tế
cấp phát và hướng dẫn sử dụng đến từng người dân. Bên cạnh đó những người dân
sống trong vùng dịch cũng cần có các biện pháp tự pḥng bệnh, tự trang bị khẩu
trang, tăng cường vệ sinh cá nhân và sử dụng các loại thuốc sát khuẩn đường hô
hấp trên.
Việc đảm bảo vệ sinh môi trường
cũng phải được tiến hành thường xuyên, bên cạnh biện pháp tẩy uế chuồng trại
nuôi gia cầm mắc dịch, cần phun thuốc Cloramin B ở môi trường xung quanh khu vực
nhà ở, nếu cần thiết có thể phun thuốc trong từng gia đ́nh. Sau khi ra khỏi khu
vực đang xảy ra dịch, các nhân viên y tế mới được cởi bỏ trang bị và quần áo bảo
hộ. Các trang bị và quần áo được thay ra phải cho ngay vào túi nilông, buộc kín
lại, sau đó ngâm vào dung dịch tẩy trùng và đưa về cơ sở y tế để tiêu huỷ bằng
cách đốt hoặc chôn.
Các gia đ́nh nằm trong vùng có
dịch cúm gia cầm hoặc có người thân bị mắc viêm phổi do virus cũng cần phải có
biện pháp vệ sinh nhà cửa, các đồ dùng của người mắc bệnh cũng cần phải được
ngâm vào dung dịch tẩy trùng 20 phút sau đó giặt sạch và phơi khô mới đưa vào sử
dụng. Tại các cơ sở y tế, phải bố trí pḥng khám cách ly đối với những người có
biểu hiện của bệnh viêm phổi do virus. Nhân viên y tế khi tiếp xúc với người
nghi mắc bệnh cũng cần phải được trang bị bảo hộ như khi vào vùng dịch. Sau khi
khám bệnh phải rửa tay bằng dung dịch tẩy trùng. Tại khoa điều trị phải bố trí
các buồng bệnh cách ly, khi vào khu vực điều trị này nhân viên y tế cũng phải
được trang bị, mặc quần áo bảo hộ. Tại mỗi khu vực điều trị cũng cần bố trí một
pḥng được quy định dành riêng cho việc thay quần áo bảo hộ sạch. Trước các
buồng bệnh phải đặt các tấm chùi chân, nhân viên y tế phải chùi chân trước khi
vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh. Người bệnh khi được khám bệnh cũng
phải đeo khẩu trang để tránh lây nhiễm sang nhân viên y tế, các nhân viên y tế
cũng phải tuân thủ các quy định chuyên môn về việc đảm bảo vô khuẩn và sử dụng
các trang bị, quần áo bảo hộ theo nguyên tắc chống lây nhiễm chéo trong khu vực
điều trị. Tại trước cửa mỗi buồng điều trị cần đặt một lọ cồn sát trùng để nhân
viên y tế rửa tay ngay sau khi khám và tiếp xúc với người bệnh. Khi đă xong công
việc và cần ra khỏi khu vực điều trị cách ly, nhân viên y tế mới được cởi bỏ
trang bị và quần áo bảo hộ. Việc cởi bỏ trang bị và quần áo bảo hộ phải được
thực hiện tại một pḥng đă được dành riêng cho việc này. Quần áo và trang bị bảo
hộ cũng được đựng vào các túi nilông, sau đó buộc kín lại, ngâm dung dịch tẩy
trùng trước khi mang đi tiêu huỷ.
Về nguyên tắc, tại các khu vực
điều trị cách ly không cho phép những người không có trách nhiệm có mặt tại đây.
Tuy nhiên, ở một số pḥng bệnh chưa phải thuộc diện cách ly tuyệt đối, người
bệnh đang được theo dơi chưa được chẩn đoán xác định th́ những người tiếp xúc
với người bệnh cũng phải được trang bị bảo hộ và tuân thủ các nguyên tắc bảo hộ
như với nhân viên y tế.
* Biện pháp 3:
Tăng cường sức khoẻ bằng cách ăn
uống và luyện tập thể dục thể thao.
* Biện pháp 4:
Khi có các biểu hiện của bệnh
như: Sốt cao, đau đầu, đau cơ, đau họng, ho... cần đến ngay cơ sở y tế để khám
và điều trị.
Hiện đă có các thuốc chống cúm có
thể được dùng cả để pḥng ngừa người nhiễm cúm gà và để điều trị những người đă
nhiễm cúm gà. Virus dường như kháng với hai thuốc chống cúm cũ là amantadin và
rimantadin. Tuy nhiên, các thuốc chống cúm mới hơn Tamiflu và Relenza hy vọng sẽ
có tác dụng và được cung cấp đủ nếu có dịch xảy ra.
Tamiflu là loại thuốc chống virus
có hiệu quả cao trong điều trị cúm A và được Bộ Y tế đưa vào phác đồ điều trị.
Tamiflu với tên hoạt chất là Oseltamivir của Hăng dược phẩm RoChe (Thuỵ Sĩ) là
loại thuốc chống virus có tác dụng ức chế virus cúm thông qua việc ức chế men
neuraminidase (N). Men N có tác dụng hết sức cơ bản trong việc hạn chế sự phát
tán virus này trong cơ thể. Khi người mắc cúm dùng loại thuốc này sẽ làm cho
virus cúm không nhân lên và ḱm hăm sự phát triển của virus.
Theo cuốn sách Giới thiệu thuốc
và biệt dược của Hội các Dược sĩ Canada xuất bản năm 2003 ghi rơ: Thuốc Tamiflu
được chỉ định để điều trị nhiễm bệnh cúm ở người lớn. Đối với trẻ em, sự an toàn
và hiệu quả của thuốc chưa được xác định rơ ràng. Đối với người có thai phải cân
nhắc khi sử dụng v́ có những nguy cơ đối với bào thai. Liều được khuyên dùng là
2 viên Tamiflu 75mg/2 lần/ ngày. Phải dùng thuốc điều trị liên tục trong 5 ngày.
Quá tŕnh điều trị phải được bắt đầu sau khi phát hiện (không chậm hơn 2 ngày)
các triệu chứng của bệnh cúm. Lư tưởng nhất là dùng thuốc ngay sau 40 giờ phát
hiện có bệnh. Bệnh nhân phải được dùng đủ liều điều trị (10 viên/5 ngày), kể cả
khi hết các triệu chứng bệnh vẫn phải uống thuốc đủ liều. Về tác dụng phụ của
thuốc, qua nghiên cứu của Hăng RoChe trên 724 bệnh nhân uống Tamiflu 2 viên
75mg/ngày có 72 người có triệu chứng buồn nôn (chiếm 9,9%), 68 người có nôn
(9,4%), 48 người đi lỏng (6,6%)...
Ở Việt Nam hiện nay, trong phác
đồ điều trị bệnh cúm A của Bộ Y tế cho phép các cơ sở điều trị bệnh nhân cúm A
đưa thuốc Tamiflu vào điều trị cho bệnh nhân và có hiệu quả rơ rệt. Theo phác
đồ này, trẻ em từ 1-13 tuổi dùng dung dịch uống tuỳ theo trọng lượng cơ thể: <
15kg: 30mg x 2 lần/ngày x 5 ngày; từ 16-23kg: 45mg x 2lần/ngày x 5 ngày; từ
24-40kg: 60mg x 2 lần/ngày x 5 ngày. Người lớn và trẻ trên 13 tuổi: 75mg x
2lần/ngày x 5 ngày. Ngoài ra, c̣n có hai loại thuốc kháng virus là Amantadine và
Ribavirin được Bộ Y tế đưa vào phác đồ điều trị bệnh cúm A. Việc sử dụng các
loại thuốc này phải theo dơi chức năng gan, thận để điều chỉnh liều lượng cho
phù hợp. Theo Bộ Y tế, chỉ có các cơ sở điều trị bệnh nhân mắc cúm A và nghi
nhiễm cúm A mới có chỉ định dùng thuốc Tamiflu. Người bệnh không nên tự điều trị
bằng thuốc này tại nhà mà chỉ được sử dụng dưới sự theo dơi của thầy thuốc.
Có một số phương pháp điều trị
thay thế có thể giúp chống lại virus cúm và phục hồi do bệnh cúm, để làm giảm
nhẹ các triệu chứng cúm.
- Châm cứu và giác hút. Cả hai
phương pháp nói trên dùng để kích thích đề kháng tự nhiên, làm giảm sung huyết
mũi và đau đầu, sốt cao và giảm ho, tuỳ thuộc vào các huyệt đạo châm cứu và giác
hút được sử dụng.
- Xoa bóp dầu thơm. Các thầy
thuốc giới thiệu nên súc miệng và họng hàng ngày với một giọt tinh dầu của cây
chè (Melaleuca spp) và chanh pha trong một cốc nước ấm. Nếu đă bị cúm, hai giọt
tinh dầu chè hoà trong bồn tắm nước nóng có thể giúp bạn làm giảm triệu chứng.
Các tinh dầu thiết yếu của cây khuynh diệp (Eucalyptus globulus) hoặc bạc bà
(Mentha piperita) được dùng trong xông hơi có thể giúp dễ thở và nghẹt mũi.
- Thảo dược. Thảo dược có thể
được dùng để kích thích hệ miễn dịch, để chống virus. Tỏi (Allium sativum) có
khả năng chống virus khi có các triệu chứng của bệnh cúm. Ví dụ, truyền boneset
(Eupatroium perfoliatum) có thể làm giảm đau đầu và sốt, và cỏ thi (Achillea
millefolium) hoặc hoa cây cơm cháy (elderflower) có thể chống lại ớn lạnh.
Phép chữa vi lượng đồng căn. Để
pḥng bệnh cúm, một phương pháp chữa bệnh vi lượng đồng căn được gọi là
OscilloCoCcinum có thể được áp dụng khi có dấu hiệu đầu tiên của triệu chứng
cúm và nhắc lại trong một đến hai ngày. Các phương pháp chữa vi lượng đồng căn
khác được giới thiệu khác nhau tuỳ theo các triệu chứng cúm đặc trưng xuất
hiện. Gelsemium được giới thiệu để chống lại sự mệt mỏi kèm theo ớn lạnh, đau
đầu và sự sung huyết mũi. Bryonia (Bryonia alba) có thể được sử dụng để điều trị
đau cơ, đau đầu, và ho khan. Với t́nh trạng khó ngủ, ớn lạnh, khản tiếng, và đau
khớp, chất độc cây thường xuân (Rhus toxicodendron) được khuyến khích sử dụng.
Cuối cùng, t́nh trạng đau nhức và ho khan hoặc ớn lạnh được gợi ư dùng
Eupatorium perfoliatum.
- Thuỷ liệu pháp. Tắm sẽ làm cho
sốt do cúm sẽ hồi phục nhanh bởi việc tạo ra một môi trường trong cơ thể mà
virus cúm không thể sống được. Bệnh nhân nên tắm bằng nước nóng ở mức có thể
chịu được và duy tŕ trong pḥng tắm từ 20-30 phút. Trong khi tại pḥng tắm,
bệnh nhân uống một cốc nước cỏ thi hoặc chè làm từ hoa cây cơm cháy để làm toát
mồ hôi. Trong khi tắm, một chiếc khăn lạnh được đặt trên trán hoặc nách để làm
hạ nhiệt độ trung tâm. Bệnh nhân được hỗ trợ khi ra khỏi pḥng tắm (họ có thể
cảm thấy mệt và chóng mặt) và sau đó trở lại giường và đắp một lớp chăn mỏng để
gây toát mồ hôi nhiều hơn.
- Vitamin. Với người lớn, 2-3g
vitamin C mỗi ngày có thể giúp pḥng bệnh cúm. Tăng liều 5-7g mỗi ngày trong
trường hợp cúm kèm thêm bội nhiễm. (Liều nên giảm nếu bệnh nhân bị ỉa chảy).
Pḥng ngừa
Trung tâm Pḥng chống bệnh Mỹ
(CDC) khuyến cáo rằng: nên tiêm vaccin hàng năm trước khi mùa cúm bắt đầu. Ở Mỹ,
mùa cúm điển h́nh bắt đầu từ cuối tháng 12 tới đầu tháng 3. Vaccin nên được tiêm
2-6 tuần trước khi mùa cúm bắt đầu, điều này cho phép cơ thể có đủ thời gian
h́nh thành miễn dịch. Người lớn chỉ cần 1 liều vaccin hàng năm, nhưng với những
trẻ dưới 9 tuổi mà chưa được miễn dịch trước đó th́ nên tiêm 2 liều, mỗi liều
cách nhau 1 tháng.
Vaccin mỗi mùa cúm gồm 3 chủng
virus có khả năng dễ gặp nhất trong mùa cúm tới. Khi có sự so sánh tốt giữa
chủng cúm đoán trước và chủng cúm được dùng trong vaccin, vaccin có hiệu quả từ
70-90% đối với người dưới 65 tuổi. V́ đáp ứng miễn dịch giảm bớt phần nào theo
độ tuổi, những người trên 65 tuổi không thể nhận được mức bảo vệ như vậy từ
vaccin, nhưng thậm chí nếu họ tiếp xúc virus cúm, th́ vaccin cũng giúp làm giảm
bớt mức độ nặng và pḥng các biến chứng. Chủng virus được sử dụng làm vaccin là
dạng bất hoạt và không gây bệnh cúm. Trước đây, các triệu chứng cúm thường liên
quan vào các chế phẩm vaccin mà độ tinh khiết không bằng với vaccin hiện nay.
Năm 1976, một nguy cơ nhỏ tiến triển hội chứng Guillain-Barre, đó là một rối
loạn rất hiếm gặp, liên quan với vaccin cúm lợn. Sự liên quan này xảy ra chỉ vào
năm 1976 với chế phẩm vaccin cúm lợn và không bao giờ tái xảy ra.
Tác dụng phụ nghiêm trọng với
vaccin hiện nay là vô cùng hiếm. Một vài người bị đau nhẹ tại nơi tiêm, chỗ tiêm
sẽ hết đau trong 1-2 ngày. Ở những người chưa tiếp xúc với virus cúm, đặc biệt ở
trẻ em, có thể bị sốt nhẹ 1-2 ngày, mệt mỏi và đau cơ. Những triệu chứng này bắt
đầu trong ṿng 6-12 giờ sau khi tiêm vaccin.
Lưu ư là một vài người không nên
tiêm vaccin cúm. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi có hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh và
không có lợi khi tiêm vaccin. Từ khi vaccin là chế phẩm từ trứng gà, người mà bị
dị ứng nặng với trứng hoặc các thành phần khác của vaccin th́ không nên tiêm
vaccin cúm. Một biện pháp thay thế là họ có thể dùng một liệu tŕnh amantadin
hoặc rimantadin cũng được dùng như một biện pháp bảo vệ chống lại virus cúm.
Những người khác có thể dùng thuốc mà thuốc này đă có khả chữa được sau khi mùa
cúm bắt đầu hoặc người bị tổn thương hệ miễn dịch, như những bệnh nhân HIV giai
đoạn cuối. Amantadin và rimantadin có hiệu quả 70-90% trong việc pḥng cúm.
Một vài nhóm người khỏe mạnh cũng
được khuyên dùng vaccin v́ họ có nguy cơ bị các biến chứng do cúm:
- Tất cả những người 65 tuổi hoặc
hơn.
- Những người điều trị nội trú
tại bệnh viện và dễ mắc bệnh mạn tính, cho mọi lứa tuổi.
- Người lớn và trẻ em bị bệnh tim
phổi mạn tính, như hen phế quản.
- Người lớn và trẻ em bị bệnh
chuyển hóa mạn tính, như bệnh tiểu đường và rối loạn chức năng thận, cũng như
thiếu máu nặng hoặc bệnh về máu bẩm sinh.
- Trẻ em và vị thành niên điều
trị liệu pháp aspirin dài ngày.
- Phụ nữ có thai tháng thứ 2 hoặc
3 trong mùa cúm hoặc những phụ nữ đang phải chăm sóc bệnh nhân.
- Người bị suy giảm miễn dịch,
bao gồm người nhiễm HIV, bệnh nhân ung thư, những người nhận ghép tạng, và những
bệnh nhân đang dùng steroid, hóa trị liệu, hoặc xạ trị.
- Bất cứ người nào tiếp xúc với
các nhóm trên, như giáo viên, nhân viên chăm sóc, nhân viên y tế và các thành
viên trong gia đ́nh.
- Du lịch nước ngoài.
Tuy nhiên, nhiều người không nằm
trong các nhóm nguy cơ trên cũng nên tiêm vaccin. Bất kỳ người nào muốn thoát
khỏi sự lo lắng và phiền phức khỏi sự tấn công của virus cúm th́ có thể tiêm
vaccin.
Lây truyền
Thông thường virus cúm truyền
bệnh từ người bệnh sang người lành, thời gian lây từ ngày đầu đến ngày khỏi
bệnh, trung b́nh 5-7 ngày. Trong khoảng cách giữa hai vụ dịch virus cúm tồn tại
ở bệnh nhân mắc thể ẩn, trá h́nh, tản phát. Bệnh lây do tiếp xúc giữa người bệnh
với người lành, khoảng cách gần, dưới 1 m, không lây ở khoảng cách xa 5-10m,
không lây gián tiếp qua đồ chơi vật dụng. Bệnh lây đường hô hấp, qua hơi thở,
hắt hơi sổ mũi, qua những giọt nước li ti chứa virus cúm. Các phương tiện giao
thông hiện đại như máy bay, tàu thủy, tàu hỏa tạo điều kiện cho dịch cúm lan rất
xa, rất nhanh.
Dịch cúm xuất hiện hết sức đột
ngột, lan truyền có thể rất nhanh chóng trong một địa phương, nhiều khi mang
tính bùng nổ đồng thời ở nhiều vùng khác nhau. Có hai loại dịch cúm: đại dịch
lan tràn nhanh, khắp hành tinh, khi xuất hiện một phân virus cúm mới, thường sau
một chu kỳ 10-15 năm. Xen kẽ giữa hai đại dịch là các vụ dịch nhỏ, sức lan
truyền hạn chế, liên quan đến biến đổi nhỏ các kháng nguyên virus.
Bệnh cúm gà
Ở nông thôn, virus H5N1 lây lan
nhanh chóng từ các trang trại gia cầm nội địa qua phân gà và chim hoang dă.
Virus này có thể sống 4 ngày ở nhiệt độ 22oC và hơn 30 ngày ở 0oC. Nếu ở băng
chúng có thể sống vô thời hạn.
V́ vậy khi có dịch bệnh, một số
người đă mắc bệnh cúm gà do tiếp xúc trực tiếp với gà hoặc phân gà bị bệnh.
Người nhiễm virus cúm gà có thể lây sang người khác, mặc dù bệnh này thường nhẹ
ở người lây từ người hơn người bị nhiễm trực tiếp từ gà.
(Nguồn:
Bộ Y tế)
|