Thuốc ức chế tổng hợp cholesterol.
Cerivastatin là một chất đồng phân lập thể
(enantiomer) tổng hợp tinh khiết, có tác dụng ức chế cạnh tranh sự tổng hợp
cholesterol, đặc biệt ức chế men HMG-CoA (hydroxy-methyl-glutaryl coenzyme A)
reductase. Men này có tác dụng xúc tác cho "bước xác định tốc độ" trong quá
trình tổng hợp cholesterol, chuyển đổi HMG-CoA thành acid mevalonic.
Vị trí tác dụng chủ yếu của cerivastatin là ở
gan. Nhờ làm giảm lượng cholesterol nội bào, các chất ức chế men HMG-CoA
reductase tạo nên tác dụng điều hòa ngược trên các thụ thể LDL (lipoprotein tỷ
trọng thấp) ở gan, làm tăng độ thanh thải LDL cholesterol và làm giảm
cholesterol toàn phần lẫn LDL cholesterol trong huyết thanh.
CHỈ ĐỊNH
Chức năng gan :
- Như các thuốc hạ lipid khác, hiện tượng tăng
men gan xảy ra trong quá trình điều trị với Lipobay. Trong đa số các trường hợp,
hiện tượng gia tăng này nhẹ và không có triệu chứng. Và cũng giống như đối với
các thuốc hạ lipid khác, nên làm xét nghiệm chức năng gan trước khi bắt đầu điều
trị, và sau đó phải xét nghiệm định kỳ. Cần chú ý đến những bệnh nhân có nồng độ
men transaminase gia tăng, và phải ngừng điều trị nếu như men ALT (GPT) và AST
(GOT) vượt gấp 3 lần trị số cao nhất của giới hạn bình thường.
- Cần thận trọng khi dùng Lipobay cho những
bệnh nhân có tiền sử uống rượu nhiều hoặc có tiền sử bị bệnh gan
(bệnh gan đang tiến triển hay men transaminase tăng không rõ nguyên nhân đều là
những chống chỉ định dùng Lipobay).
Cơ :
- Giống như với các chất ức chế men HMG-CoA
reductase, thỉnh thoảng có hiện tượng tăng men creatinine-phosphokinase (CPK)
trên những bệnh nhân dùng Lipobay. Điều này thường không có ý nghĩa lâm sàng.
Bệnh cơ, đi kèm với nồng độ CPK tăng rõ rệt (bằng hoặc lớn hơn 10 lần trị số
giới hạn trên của mức bình thường) và/hoặc đau cơ lan tỏa, cơ nhạy cảm đau hay
yếu cơ, hiếm gặp ở những người dùng thuốc ức chế men HMG-CoA reductase. Nên yêu
cầu bệnh nhân thông báo cho thầy thuốc nếu bị đau cơ, cơ nhạy cảm đau hoặc yếu
cơ nhất là khi có kèm theo mệt mỏi hay sốt. Phải ngừng dùng thuốc Lipobay nếu đã
được chẩn đoán hoặc nghi ngờ bị bệnh cơ, hoặc khi nồng độ men CPK tăng cao rõ
rệt và được khẳng định qua vài lần xét nghiệm. Nguy cơ mắc bệnh cơ sẽ tăng lên ở
những bệnh nhân vừa sử dụng thuốc ức chế men HMG-CoA reductase vừa được điều trị
bằng cyclosporin, dẫn xuất của acid fibric, acid nicotinic, erythromycin hoặc
azole. Vì vậy nên thận trọng với các phối hợp nói trên.
- Những rối loạn chức năng thận thứ phát do
tiêu cơ vân xảy ra trong những trường hợp hiếm. Vì vậy nên tạm thời ngừng sử
dụng Lipobay ở những bệnh nhân đang có nguy cơ suy thận thứ phát do tiêu cơ vân.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Thuốc tách acid mật : Lipobay nên sử dụng ít
nhất một giờ sau khi dùng resin (thí dụ như cholestyramine) để tránh sự tương
tác do thuốc gắn kết với resin.
Không có ảnh hưởng đáng kể về lâm sàng trong
những nghiên cứu khác nhau về tương tác thuốc với các thuốc thường dùng cho bệnh
nhân tăng cholesterol huyết (thí dụ như warfarin, digoxin, các thuốc kháng acid,
cimetidine).
Như đã được báo cáo về các thuốc ức chế men
HMG-CoA reductase khác, khả năng bị bệnh cơ có thể xảy ra nếu sử dụng đồng thời
với acid nicotinic, fibrate (dẫn xuất của acid fibric), hay cyclosporin. Nhưng
cho đến nay vẫn chưa có báo cáo nào đối với Lipobay.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Nói chung Lipobay được dung nạp tốt. Các phản
ứng phụ do thuốc trên lâm sàng lẫn xét nghiệm đều nhẹ và thoáng qua.
Trong những nghiên cứu có đối chứng với giả
dược, các phản ứng phụ sau đây đã được ghi nhận (Lipobay : n = 2.522, giả dược :
n = 570).
Tỷ lệ mắc < 1%-0,1% :
- Toàn thân : suy nhược (mệt).
- Tiêu hóa : đầy hơi, táo bón, buồn nôn.
Tỷ lệ mắc < 0,1% :
- Toàn thân : đau đầu, đau bụng, đau lưng.
- Tiêu hóa : khó tiêu, đau dạ dày-ruột, chảy
máu lợi răng, xét nghiệm chức năng gan bất thường, phân mất màu.
- Rối loạn về chuyển hóa và dinh dưỡng : tăng
creatine phosphokinase.
- Hệ cơ-xương : đau khớp.
- Hệ thần kinh : giấc mơ bất thường, mất ngủ,
vã mồ hôi nhiều.
- Da và phần phụ : nổi ban, rối loạn ở da.
- Giác quan đặc biệt : rối loạn về mắt
Cũng như các loại statin khác, hiện tượng đục ở
nhân mắt và dưới bao nhân mắt đã được thông báo, mặc dù chưa xác định được mối
liên hệ về căn nguyên với Lipobay.
Những phản ứng phụ trầm trọng sau đây của
các thuốc cùng loại đã được thông báo nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy ở Lipobay
: phản ứng quá mẫn (hội chứng quá mẫn bao gồm phản vệ, phù mạch, hội chứng giống
lupút ban đỏ, viêm mạch máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu tán huyết,
hoại tử biểu mô do nhiễm độc, hồng ban đa dạng), vàng da ứ mật, đục nhân mắt,
trầm cảm, viêm tụy, bệnh thần kinh ngoại vi.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Trước khi bắt đầu điều trị bằng Lipobay, cần
loại trừ những nguyên nhân thứ phát gây tăng cholesterol huyết. Bệnh nhân nên
tiếp tục chế độ ăn kiêng đúng đắn nhằm làm giảm cholesterol huyết trong suốt quá
trình điều trị.
Người lớn :
Dùng Lipobay mỗi ngày một lần vào buổi tối (vào
bữa ăn chiều hoặc khi đi ngủ). Liều khởi đầu là 0,1 mg một lần, mỗi ngày. Sau ít
nhất 4 tuần, có thể tăng liều thêm 0,1 mg nữa tùy theo đáp ứng của từng người.
Liều tối đa được khuyên dùng là 0,3 mg một lần, mỗi ngày.
Dùng thuốc cùng với thức ăn không ảnh hưởng đến
tác dụng của cerivastatin. Đáp ứng đáng kể với Lipobay đạt được trong vòng 2
tuần và đáp ứng tối đa xuất hiện trong vòng 4 tuần. Đáp ứng sẽ được duy trì
trong suốt quá trình điều trị liên tục.
Người cao tuổi :
Không có những chứng cứ lâm sàng gợi ý rằng cần
phải dùng liều lượng khác cho những người cao tuổi. Cũng giống như các điều trị
khác, cần khởi đầu với liều lượng thấp nhất.
Rối loạn chức năng thận :
Dựa vào những dữ liệu dược động học, không cần
phải chỉnh liều cho những bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận. Tuy vậy, vì kinh
nghiệm lâm sàng với nhóm bệnh nhân này còn hạn chế, do đó nên bắt đầu điều trị
bằng liều thấp nhất cho bệnh nhân mắc bệnh thận vừa và nặng, và phải theo dõi
chặt chẽ.
Trẻ em :
Vì chưa có kinh nghiệm lâm sàng, nên không dùng
cho trẻ em.
Dùng thuốc phối hợp :
Lipobay trong đơn trị liệu có hiệu lực làm giảm
cholesterol toàn phần và LDL choleterol. Hiệu lực này có thể gia tăng nếu phối
hợp với thuốc tách acid mật (thí dụ như cholestyramine, xem mục Tương tác
thuốc).
QUÁ LIỀU