- Triptoréline là một décapeptide tổng hợp, là
một chất tương tự GnRH tự nhiên (hormone được giải phóng từ LH).
- Các nghiên cứu được thực hiện ở người cũng
như ở động vật đã cho thấy rằng sau khi có một sự kích thích ban đầu, dùng kéo
dài triptoréline sẽ ức chế sự bài tiết hướng sinh dục, làm mất các chức năng của
tinh hoàn và buồng trứng. Sau một số nghiên cứu trên động vật, người ta thấy có
1 cơ chế tác động khác của thuốc như sau : thuốc tác động trực tiếp lên các
tuyến sinh dục bằng cách làm giảm sự nhạy cảm của các thụ thể ở ngoại biên đối
với GnRH.
Ung thư tuyến tiền liệt :
- Ở người, dùng mỗi ngày một liều triptoréline
có thể lúc đầu sẽ làm tăng các nồng độ LH và FSH trong máu, điều này dẫn đến hệ
quả là lúc đầu nồng độ các stéroide sinh dục (như testostérone và
dihydrotestostérone) sẽ tăng lên. Nếu tiếp tục điều trị, các nồng độ LH và FSH
sau đó sẽ giảm đưa đến nồng độ của các stéroide sinh dục sẽ giảm dần đến các giá
trị như bị hoạn, trong một thời hạn từ 2 đến 3 tuần, cùng thời gian với việc sử
dụng thuốc.
- Trong thời gian đầu điều trị cũng có thể ghi
nhận thấy có tăng thoáng qua các phosphatase acide.
- Việc điều trị sẽ làm cải thiện các dấu hiệu
chức năng và khách quan.
Dậy thì sớm :
- Ức chế các hoạt động hướng sinh dục quá mức
của tuyến yên được biểu hiện, ở cả hai giới tính, qua việc ức chế sự bài tiết
estradiol hay testostérone, làm giảm nồng độ đỉnh của LH và cải thiện tương quan
giữa chiều cao, tuổi thật và trọng lượng xương.
- Việc kích thích tuyến sinh dục vào lúc đầu có
thể gây xuất huyết sinh dục nhẹ, có thể cần phải được điều trị bằng
médroxyprogestérone acétate hay cyprotérone acétate.
Lạc nội mạc tử cung :
Dùng dài hạn triptoréline sẽ ức chế sự bài tiết
estradiol và như thế sẽ làm ngưng phát triển các mô của nội mạc tử cung.
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Dùng hàng ngày Décapeptyl sẽ tạo ra 1 giai đoạn
khởi đầu là kích thích hướng sinh dục (FSH và LH), tiếp theo đó là giai đoạn ức
chế. Sử dụng triptoréline kéo theo việc ức chế tiết FSH và LH hướng sinh dục. Do
đó việc điều trị này sẽ ức chế đỉnh gian phát của lượng LH và cho phép tạo thành
các nang noãn hoàn chỉnh, cũng như gia tăng sự tuyển chọn nang noãn.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Ung thư tuyến tiền liệt : điều trị ung
thư tuyến tiền liệt có di căn.
Thuốc có hiệu quả điều trị tốt hơn và thường
hơn nếu như bệnh nhân chưa từng được điều trị trước đó bằng nội tiết tố.
Dậy thì sớm (trước 8 tuổi ở trẻ gái và
trước 10 tuổi ở trẻ nam).
Lạc nội mạc tử cung ở cơ quan sinh dục và
ngoài cơ quan sinh dục (từ giai đoạn I đến giai đoạn IV). Thời gian điều trị
được giới hạn trong vòng 6 tháng (xem mục Tác dụng ngoại ý). Không nên điều trị
tiếp theo bằng triptoréline hay 1 chất tương tự GnRH.
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Điều trị hỗ trợ bằng cách phối hợp với các
gonadotrophine (hMG, FSH, hCG) trong giai đoạn gây cảm ứng sự rụng trứng cho
việc thụ tinh nhân tạo tiếp theo là một quá trình cấy chuyển phôi (Fivete).
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chú ý đề phòng :
Ung thư tuyến tiền liệt :
Khi bắt đầu điều trị : một vài trường hợp riêng
rẽ được ghi nhận là có nặng lên, thường chỉ tạm thời, các triệu chứng lâm sàng
(nhất là đau xương) được ghi nhận khi bắt đầu điều trị. Do đó cần phải theo dõi
y khoa chặt chẽ trong các tuần lễ đầu điều trị, nhất là ở những bệnh nhân bị tắc
các đường bài tiết và ở những bệnh nhân bị di căn cột sống (xem Tác dụng ngoại
ý). Tương tự, cần phải cân nhắc kỹ khi điều trị cho những bệnh nhân có các dấu
hiệu báo hiệu bị chèn ép tủy.
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Việc tăng số lượng nang tuyến do tiêm
triptoréline, khi có phối hợp với các gonadotrophine, có thể trở nên đáng kể ở
một số bệnh nhân có bẩm chất khó thụ thai và đặc biệt trong trường hợp bị đa u
nang buồng trứng. Đáp ứng của buồng trứng đối với phối hợp
triptoréline-gonadotrophine có thể thay đổi với cùng một liều lượng ở bệnh nhân
này so với bệnh nhân khác, và trong một số trường hợp có sự đáp ứng khác nhau
giữa những chu kỳ kinh khi dùng trên cùng một bệnh nhân.
Thận trọng lúc dùng :
Ung thư tuyến tiền liệt :
- Nên theo dõi định kỳ nồng độ testostérone
trong máu không được vượt quá 1 ng/ml.
- Việc đáp ứng với điều trị có thể được đánh
giá trên xương bằng xét nghiệm chụp lấp lánh và/hoặc chụp cắt lớp điện toán ; ở
tuyến tiền liệt, việc đáp ứng sẽ được đánh giá (ngoài các kiểm tra lâm sàng và
khám qua trực tràng) bằng siêu âm và/hoặc phương pháp chụp cắt lớp điện toán.
Lạc nội mạc tử cung :
Trước khi kê toa Décapeptyl 3,75 mg cần phải
kiểm tra chắc chắn rằng bệnh nhân không có thai.
Dùng đều đặn mỗi 4 tuần Décapeptyl 3,75 mg tác
động kéo dài sẽ gây vô kinh do thiểu năng sinh dục. Nếu xảy ra băng huyết trong
thời gian điều trị là có bất thường, cần phải kiểm tra nồng độ estradiol trong
huyết tương và nếu nồng độ này dưới 50 pg/ml, cần kiểm tra xem có một sang
thương thực thể nào hay không.
Sau khi ngưng điều trị, chức năng của buồng
trứng hoạt động trở lại và trứng rụng trở lại trung bình sau khoảng 58 ngày sau
mũi tiêm cuối cùng và kinh nguyệt có trở lại trung bình sau khoảng 70 ngày. Nếu
có thể, nên dự kiến một biện pháp ngừa thai.
Do còn thiếu dữ liệu và do thận trọng, nên
tránh phối hợp với các thuốc làm tăng prolactine huyết (do các thuốc này có thể
làm giảm nồng độ các thụ thể tiếp nhận GnRH trong tuyến yên).
Trường hợp sử dụng kéo dài, nên kiểm tra khối
lượng xương (xem mục Tác dụng ngoại ý).
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Việc gây rụng trứng phải được thực hiện dưới sự
theo dõi y khoa chặt chẽ và kiểm tra sinh học và lâm sàng nghiêm ngặt và thường
xuyên : định lượng nhanh nồng độ estrogène trong huyết tương, chụp siêu âm (xem
mục Tác dụng ngoại ý). Trường hợp có đáp ứng quá mức ở buồng trứng, nên ngưng
chu kỳ điều trị bằng cách ngừng tiêm gonadotrophine.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Ung thư tuyến tiền liệt :
- Khởi đầu điều trị (xem mục Chú ý đề phòng và
Thận trọng lúc dùng) : đôi khi có thể làm nặng lên các dấu hiệu lâm sàng và các
triệu chứng (đặc biệt là đau xương). Một vài trường hợp làm nặng lên chứng huyết
niệu đã bị trước đó, hoặc gây tắc đường tiểu, cảm giác yếu ớt hoặc gây dị cảm
các chi dưới đã được ghi nhận đối với một số chất tương tự GnRH khác.
Các biểu hiện này thường là thoáng qua, sẽ tự
khỏi sau 1 đến 2 tuần vẫn tiếp tục điều trị. Tuy nhiên, khả năng xảy ra cơn kịch
phát tạm thời các triệu chứng kéo dài trong các tuần lễ điều trị đầu cần phải
được thận trọng lưu ý ở những bệnh nhân bị đe dọa xảy ra rối loạn thần kinh hay
ở những người bị tắc nghẽn đường tiểu.
- Trong thời gian điều trị : các tác dụng ngoại
ý sau đây được ghi nhận : bốc hỏa (khoảng 35%), đau tại nơi tiêm (khoảng 2%),
bất lực (khoảng 6%), cơn cao huyết áp động mạch thoáng qua (dưới 3%).
Với các chất tương tự GnRH khác, một số tác
dụng ngoại ý sau được ghi nhận : sốt, buồn nôn, ói mửa, phát ban ở da, ngứa
(khoảng 3 đến 4%) ; yếu ớt ở các chi dưới, chóng mặt, khó thở (dưới 2%) ; nhức
đầu, đánh trống ngực, tiêu chảy, táo bón, rối loạn thị giác, trầm cảm, chán ăn,
ra mồ hôi ban đêm, mồ hôi lạnh, rụng tóc, ngủ gật (dưới 1%).
Dậy thì sớm :
Có thể xảy ra các xuất huyết nhẹ ở đường sinh
dục sau mũi tiêm đầu tiên ở một phần ba trẻ gái, có thể cần phải được điều trị
bằng médroxyprogestérone acétate (40 mg/ngày) hay cyprotérone acétate (100
mg/ngày) trong tuần lễ đầu điều trị.
Lạc nội mạc tử cung :
Các tác dụng ngoại ý như bốc hỏa, khô âm đạo
cho thấy thuốc có hiệu lực phong bế tuyến yên-buồng trứng.
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Hiếm gặp : bốc hỏa, suy nhược, nhức đầu.
Nếu dùng phối hợp với các gonadotrophine có thể
gây tăng kích thích buồng trứng. Quá dưỡng buồng trứng, đau vùng khung chậu
và/hoặc đau bụng có thể được ghi nhận (xem mục Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc
dùng).
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Ung thư tuyến tiền liệt :
Có thể áp dụng hai phác đồ điều trị sau đây :
- tiêm dưới da mỗi ngày Décapeptyl 0,1 mg có
tác động nhanh trong 7 ngày đầu, sau đó tiêm bắp Décapeptyl 3,75 mg có tác động
kéo dài từ ngày thứ 8, sau đó tiêm lặp lại mỗi 4 tuần ;
- hoặc tiêm bắp ngay từ đầu Décapeptyl 3,75 mg
có tác động kéo dài, lặp lại mỗi 4 tuần.
Dậy thì sớm :
Tiêm bắp 50
mg/kg mỗi 4
tuần.
Lạc nội mạc tử cung :
Việc điều trị phải được bắt đầu trong vòng 5
ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
khoảng cách giữa các mũi tiêm : tiêm lặp lại
mỗi 4 tuần,
thời gian điều trị : tùy theo mức độ lạc nội
mạc tử cung lúc bắt đầu điều trị và tiến triển của bệnh trong thời gian điều trị
qua các biểu hiện lâm sàng (chức năng và giải phẫu). Trên nguyên tắc, thời gian
điều trị ít nhất là 4 tháng và tối đa là 6 tháng. Không nên lặp lại một đợt điều
trị thứ hai với triptoréline hay với một thuốc tương tự GnRH khác.
Phụ nữ không có khả năng thụ thai :
Phác đồ điều trị thường được sử dụng là tiêm
bắp một lọ Décapeptyl 3,75 mg từ ngày thứ hai của chu kỳ. Bắt đầu dùng phối hợp
với gonadotrophine sau khi đã giải cảm ứng tuyến yên (nồng độ estrogène trong
huyết tương dưới 50 pg/ml), thường khoảng 15 ngày sau khi tiêm Décapeptyl.
Ghi chú : khi tiêm dạng có tác động kéo dài
phải thực hiện đúng theo hướng dẫn sử dụng. Nếu tiêm không đúng cách và làm thất
thoát lượng hỗn dịch nhiều hơn là lượng còn lại trong bơm tiêm thì phải báo cáo.
BẢO QUẢN