- Uống nhiều trà sẽ giảm hấp thu chất sắt.
- Trường hợp bệnh nhân đang theo chế độ ăn
kiêng hydrate carbone, cần lưu ý rằng mỗi ống thuốc có chứa 3 g saccharose.
- Để tránh khả năng răng bị nhuộm đen (sẽ tự
khỏi sau đó), tránh ngậm lâu dung dịch thuốc trong miệng.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Không nên phối hợp :
- Sắt (dạng muối ; đường tiêm) : xỉu, thậm chí
sốc do giải phóng nhanh sắt từ dạng phức hợp và do bão hòa sidérophiline.
Thận trọng khi phối hợp :
- Ciprofloxacine : giảm sinh khả dụng của
ciprofloxacine do tạo chelate và do một tác dụng không chuyên biệt trên khả năng
hấp thu của ống tiêu hóa. Dùng các thuốc này cách xa nhau (trên 2 giờ nếu có
thể).
- Cycline (đường uống) : giảm hấp thu của
cycline ở đường tiêu hóa (do hình thành phức chất). Dùng các thuốc này cách xa
nhau (2 giờ chẳng hạn).
- Muối, oxyde, hydroxyde của Mg, Al và Ca (phủ
niêm mạc dạ dày-ruột) : giảm hấp thu đường tiêu hóa của muối sắt. Dùng các thuốc
này cách xa nhau (2 giờ chẳng hạn).
- Diphosphonate (đường uống) : giảm hấp thu các
diphosphonate. Dùng các thuốc này cách xa nhau (2 giờ chẳng hạn).
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Pha loãng ống thuốc trong nước (có đường hoặc
không), uống trước các bữa ăn, chia làm nhiều lần trong ngày.
Điều trị :
- Người lớn : 100 đến 200 mg Fe/ngày.
- Trẻ em/Trẻ nhũ nhi : 5 đến 10 mg Fe/kg/ngày.
Dự phòng :
- Phụ nữ mang thai : 50 mg Fe/ngày, trong 2 quý
sau của thai kỳ (hoặc từ tháng thứ tư).
Thời gian điều trị :
Thời gian điều trị phải đủ để điều chỉnh sự
thiếu máu và hồi phục lại nguồn dự trữ chất sắt, ở người lớn là 600 mg ở phụ nữ
và 1200 mg ở nam giới.
Thiếu máu thiếu sắt : 3 đến 6 tháng tùy theo
mức độ hao hụt nguồn dự trữ, có thể lâu hơn nếu nguyên nhân gây thiếu máu không
được kiểm soát.
QUÁ LIỀU
Sau khi uống một lượng lớn thuốc, những trường
hợp quá liều muối sắt đã được ghi nhận, đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi : các triệu
chứng bao gồm bị kích ứng và hoại tử dạ dày-ruột, đa số trường hợp có kèm theo
nôn, mửa và tình trạng sốc.
Cần điều trị càng sớm càng tốt, tiến hành rửa
dạ dày với dung dịch natri bicarbonate 1%.
Sử dụng các chất tạo phức chelate rất có hiệu
quả, nhất là khi dùng déféroxamine, chủ yếu khi nồng độ chất sắt trong máu trên
5 mg/ml.
Tình trạng sốc, mất nước và bất thường acide-base được điều trị bằng các phương
pháp cổ điển.