Risperdal, có hoạt chất là risperidone, là
thuốc chống loạn thần mới thuộc nhóm dẫn xuất benzisoxazole.
Risperidone là một chất đối kháng monoaminergic
có chọn lọc với những đặc tính riêng biệt. Risperidone có ái lực cao với các thụ
thể serotonin 5-HT2 và dopamine D2.
Risperidone cũng gắn kết vào thụ thể
a1-adrenergic
và có ái lực thấp hơn với thụ thể histamin H1 và thụ thể
a2-adrenergic.
Risperidone không có ái lực với các thụ thể
cholinergic. Mặc dầu risperidone là chất đối kháng mạnh với thụ thể D2,
được xem là cải thiện các triệu chứng dương tính của bệnh tâm thần phân liệt,
nhưng risperidone ít gây ức chế các hoạt động về vận động và ít gây chứng giữ
nguyên thế hơn các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. Là chất đối kháng cân
bằng giữa thụ thể serotonin và dopamine trung ương, risperidone có thể làm giảm
nguy cơ gây tác dụng phụ ngoại tháp và mở rộng tác động điều trị đối với các
triệu chứng âm tính và triệu chứng cảm xúc ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Risperidone được hấp thu hoàn toàn sau khi
uống, đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 1-2 giờ. Sự hấp thu
không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, vì vậy risperidone có thể dùng lúc no hoặc đói.
Risperidone được chuyển hóa một phần thành
9-hydroxy-risperidone, chất này có tác dụng dược lý tương tự như risperidone.
Risperidone cùng với 9-hydroxy-risperidone tạo nên thành phần có hoạt tính chống
loạn thần. Đường chuyển hóa khác của risperidone là loại gốc alkyl ở Nitơ.
Ở những bệnh nhân tâm thần, sau khi uống
risperidone được thải trừ với thời gian bán thải khoảng 3 giờ. Thời gian bán hủy
của 9-hydroxy-risperidone và thành phần có hoạt tính chống loạn thần là 24 giờ.
Nồng độ ổn định trong máu của risperidone đạt
được trong vòng 1 ngày ở hầu hết các bệnh nhân. Nồng độ ổn định trong máu của
9-hydroxy-risperidone đạt được trong vòng 4-5 ngày sau khi dùng thuốc. Trong
khoảng liều điều trị, nồng độ trong huyết tương của risperidone tỉ lệ với liều
dùng.
Risperidone được phân bố nhanh chóng. Thể tích
phân bố là 1-2 l/kg. Trong huyết tương, risperidone gắn kết với albumin và
a1-acid
glycoprotein. Sự gắn kết với protein huyết tương của risperidone là 88%, của
9-hydroxy-risperidone là 77%.
Một tuần sau khi uống, 70% liều uống được thải
trừ trong nước tiểu và 14% trong phân. Trong nước tiểu, risperidone và
9-hydroxy-risperidone chiếm 35-45% liều dùng. Phần còn lại là những chất chuyển
hóa không có hoạt tính.
Một nghiên cứu liều duy nhất cho thấy nồng độ
chất có hoạt tính trong huyết tương cao hơn và sự thải trừ của risperidone chậm
hơn ở người già và ở bệnh nhân suy thận. Nồng độ trong huyết tương của
risperidone ở bệnh nhân suy gan là bình thường.
CHỈ ĐỊNH
Risperdal được chỉ định trong điều trị tâm thần
phân liệt cấp và mạn tính và các bệnh loạn thần khác, trong đó nổi bật các triệu
chứng dương tính (như ảo giác, hoang tưởng, rối loạn tư duy, thù hằn, đa nghi)
và/hoặc các triệu chứng âm tính (như cảm xúc cùn mòn, co rút về tình cảm và xã
hội, ngôn ngữ nghèo nàn).
Risperdal cũng cải thiện các triệu chứng cảm
xúc (như trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, lo âu) kết hợp với tâm thần phân liệt.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Do tác dụng chẹn alpha của Risperdal, chứng hạ
huyết áp tư thế đứng có thể xảy ra, đặc biệt trong giai đoạn điều chỉnh liều ban
đầu.
Risperdal nên được dùng thận trọng đối với
những bệnh nhân được biết có bệnh về tim mạch (ví dụ như suy tim, nhồi máu cơ
tim, bất thường về dẫn truyền, mất nước, giảm thể tích máu hoặc bệnh mạch máu
não) và liều dùng nên được điều chỉnh từ từ như đã được khuyến cáo (xem phần
Liều lượng và Cách dùng). Nên xem xét việc giảm liều nếu hạ huyết áp xảy ra.
Những thuốc có tính chất đối kháng thụ thể
dopamine có liên quan với việc gây ra rối loạn vận động muộn đặc trưng bởi : các
cử động nhịp nhàng không tự ý, chủ yếu ở lưỡi và/hoặc ở mặt. Đã có báo cáo rằng
sự xuất hiện các triệu chứng ngoại tháp là một yếu tố nguy cơ cho việc phát
triển rối loạn vận động muộn, bởi vì Risperdal ít có khả năng gây ra các triệu
chứng ngoại tháp hơn so với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu nên Risperdal
ít có nguy cơ tạo ra rối loạn vận động muộn hơn so với các thuốc an thần kinh cổ
điển chủ yếu. Nếu những dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn vận động muộn xảy
ra, việc ngừng sử dụng các thuốc chống loạn thần nên được xem xét.
Hội chứng ác tính của các thuốc an thần kinh
chủ yếu, đặc trưng bởi sốt cao, cứng đờ cơ, sự không ổn định về thần kinh tự
động, rối loạn ý thức và tăng nồng độ creatine phosphokinase (CPK) đã được báo
cáo xảy ra với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. Trong trường hợp này, tất
cả các thuốc chống loạn thần, kể cả Risperdal nên được ngưng sử dụng.
Nên giảm phân nửa liều khởi đầu và phần tăng
liều cho các liều kế tiếp ở người già, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. Cũng cần
thận trọng khi kê toa Risperdal đối với bệnh nhân bệnh Parkinson bởi vì theo lý
thuyết, nó có thể làm cho bệnh nặng thêm.
Những thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu được
biết có thể làm giảm ngưỡng động kinh. Nên thận trọng khi điều trị cho những
bệnh nhân có bệnh động kinh.
Bệnh nhân nên được khuyên tránh ăn quá nhiều vì
có khả năng tăng cân.
Ảnh hưởng đến việc lái xe và sử dụng máy móc
:
Risperdal có thể ảnh hưởng đến những hoạt động
đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần. Do đó, những bệnh nhân đang dùng Risperdal
được khuyên không nên lái xe hoặc vận hành máy móc cho đến khi biết rõ sự nhạy
cảm của họ.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Lúc có thai :
Độ an toàn của Risperdal khi sử dụng cho phụ nữ
có thai chưa được xác định. Mặc dù qua thử nghiệm trên động vật, risperidone
không cho thấy độc tính trực tiếp trên sự sinh sản, một số tác dụng gián tiếp
qua trung gian của prolactin và hệ thần kinh trung ương đã được ghi nhận. Tác
động gây quái thai của risperidone không được ghi nhận ở bất cứ nghiên cứu nào.
Do đó, chỉ nên dùng Risperdal trong lúc mang thai nếu lợi ích điều trị hơn hẳn
nguy cơ tai biến.
Lúc nuôi con bú :
Risperdal cũng không được biết có bài tiết
trong sữa mẹ hay không. Ở những nghiên cứu trên động vật, risperidone và
9-hydroxy-risperidone được bài tiết qua sữa. Do đó, phụ nữ đang sử dụng
Risperdal không nên cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Nguy cơ dùng kết hợp Risperdal với những thuốc
khác chưa được đánh giá một cách có hệ thống. Do Risperdal có tác dụng chủ yếu
trên hệ thần kinh trung ương vì vậy nên thận trọng khi dùng với các thuốc tác
động trên hệ thần kinh trung ương.
Risperdal có thể đối kháng tác động của
Levodopa và các chất đồng vận dopamine khác.
Carbamazepine cho thấy làm giảm nồng độ phần có
hoạt tính chống loạn thần của Risperdal trong huyết tương. Những thuốc cảm ứng
men gan khác cũng có tác dụng tương tự. Liều của Risperdal nên được điều chỉnh
lại và giảm liều nếu cần thiết khi ngưng dùng carbamazepine và những thuốc cảm
ứng men gan khác.
Nhóm phenothiazine, các thuốc chống trầm cảm 3
vòng và một số thuốc chẹn beta có thể làm tăng nồng độ risperidone trong huyết
tương nhưng không làm tăng nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần. Khi
Risperdal được uống cùng với các thuốc gắn kết cao với protein thì không có sự
thế chỗ lẫn nhau có ý nghĩa về mặt lâm sàng của bất cứ thuốc nào từ protein
huyết tương.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Nhìn chung Risperdal được dung nạp tốt và trong
nhiều trường hợp, khó phân biệt tác dụng phụ với những triệu chứng tâm thần.
Những tác dụng phụ được quan sát thấy khi sử dụng Risperdal như sau :
Thường gặp : mất ngủ, bứt rứt, lo âu,
nhức đầu.
Ít gặp : ngủ gà, mệt mỏi, choáng váng,
mất tập trung, táo bón, ăn không tiêu, nôn, mửa, đau bụng, nhìn mờ, chứng cương
dương vật, rối loạn chức năng cương dương vật, rối loạn sự xuất tinh, tiểu không
kiểm soát, viêm mũi, ban và phản ứng dị ứng khác.
Risperdal ít gây ra tác dụng phụ ngoại tháp hơn
so với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. tuy nhiên, trong một số trường
hợp, những triệu chứng ngoại tháp sau đây có thể xảy ra : run, cứng cơ, tăng
tiết nước bọt, vận động chậm chạp, đứng ngồi không yên, loạn trương lực cơ cấp.
Những triệu chứng này thường nhẹ và hồi phục khi giảm liều và/hoặc cho dùng
những thuốc chống Parkinson nếu cần thiết.
Thỉnh thoảng, hạ huyết áp tư thế đứng, nhịp tim
nhanh phản xạ hoặc cao huyết áp đã được nhận thấy sau khi uống Risperdal đặc
biệt với liều khởi đầu cao (xem phần Thận trọng lúc dùng).
Risperdal có thể gây tăng nồng độ prolactin
trong huyết tương phụ thuộc vào liều dùng. Các biểu hiện có thể kết hợp là chảy
sữa, to vú ở đàn ông, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và vô kinh.
Tăng cân (xem phần Thận trọng lúc dùng), phù và
tăng men gan đã được quan sát thấy trong khi điều trị bằng Risperdal.
Cũng như những thuốc an thần kinh cổ điển chủ
yếu, những triệu chứng sau thỉnh thoảng được ghi nhận ở bệnh nhân loạn thần :
ngộ độc nước hoặc do uống nước nhiều hoặc do hội chứng SIADH (sự tiết không
thích hợp của nội tiết tố chống lợi tiểu), rối loạn vận động muộn, hội chứng ác
tính các thuốc an thần chủ yếu, rối loạn điều hòa thân nhiệt và các cơn động
kinh.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Risperdal có thể được dùng dưới dạng viên nén
hoặc dung dịch uống.
Chuyển từ các thuốc chống loạn thần khác sang
Risperdal :
Khi điều kiện trị liệu thích hợp, nên ngưng dần
dần sự điều trị trước đó trong khi bắt đầu điều trị bằng Risperdal. Cũng như
vậy, trong điều kiện trị liệu thích hợp khi chuyển bệnh nhân đang dùng các thuốc
chống loạn thần có tác dụng kéo dài sang Risperdal, thì nên bắt đầu dùng
Risperdal thay cho lần tiêm thuốc tiếp theo. Nhu cầu cho việc tiếp tục dùng
những thuốc chống Parkinson nên được đánh giá lại định kỳ.
Người lớn :
Risperdal có thể được dùng 1 lần/ngày hoặc 2
lần/ngày.
Điều chỉnh liều tăng dần cho bệnh nhân đến 6 mg
trong vòng 3 ngày. Bệnh nhân cấp tính hoặc mãn tính, nên dùng Risperdal liều
khởi đầu 2 mg/ngày. Nên tăng liều lên 4 mg vào ngày thứ hai và 6 mg vào ngày thứ
ba. Từ đó về sau có thể duy trì liều này hoặc thay đổi tùy từng bệnh nhân nếu
cần thiết. Liều tối ưu thông thường là 4-8 mg/ngày. Tuy nhiên, ở một vài bệnh
nhân có thể chỉ cần dùng liều thấp hơn.
Giai đoạn điều chỉnh liều chậm hơn có thể tích
hợp về mặt trị liệu.
Liều trên 10 mg/ngày không thấy có hiệu quả cao
hơn so với những liều thấp hơn và có thể gây ra các triệu chứng ngoại tháp. Vì
độ an toàn của liều trên 16 mg/ngày chưa được đánh giá, do đó không nên dùng
liều cao hơn ở mức này.
Benzodiazepine có thể được phối hợp thêm với
Risperdal nếu cần có thêm tác dụng an thần.
Người già :
Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg x 2 lần/ngày.
Liều này có thể được điều chỉnh tăng thêm 0,5 mg x 2 lần/ngày tùy theo từng bệnh
nhân cho đến liều 1-2 mg x 2 lần/ngày. Risperdal được dung nạp tốt ở người già.
Trẻ em :
Chưa có kinh nghiệm dùng thuốc này cho trẻ em
dưới 15 tuổi.
Người bệnh gan và thận :
Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg x 2 lần/ngày.
Liều này có thể được điều chỉnh tăng thêm 0,5 mg x 2 lần/ngày tùy theo từng bệnh
nhân cho đến liều 1-2 mg x 2 lần/ngày. Risperdal nên được dùng thận trọng ở nhóm
bệnh nhân này cho đến khi có được nhiều kinh nghiệm hơn.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
Nhìn chung, những dấu hiệu và triệu chứng được
ghi nhận là kết quả từ tác dụng quá mức về tác động dược lý đã được biết của
thuốc. Những triệu chứng này bao gồm buồn ngủ và an thần, nhịp tim nhanh, hạ
huyết áp và triệu chứng ngoại tháp. Sự quá liều cho đến 360 mg đã được báo cáo.
Những bằng chứng hiện có gợi ý Risperdal có
khoảng an toàn rộng. Ở một bệnh nhân có kèm theo hạ kali huyết mà uống 360 mg
Risperdal, đoạn QT kéo dài đã được báo cáo.
Trong trường hợp quá liều cấp tính, nên xem xét
khả năng đã dùng nhiều thuốc.
Điều trị :
Thiết lập và duy trì sự thông thường đường hô
hấp và bảo đảm đầy đủ oxy và thông khí. Rửa dạ dày (sau khi đã đặt nội khí quản,
nếu bệnh nhân bất tỉnh) và nên xem xét việc dùng than hoạt kết hợp với thuốc xổ.
Nên bắt đầu theo dõi tim mạch ngay kể cả theo dõi điện tâm đồ liên tục để phát
hiện loạn nhịp có thể xảy ra.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với
Risperdal. Do đó những biện pháp hỗ trợ thích hợp nên được áp dụng. Hạ huyết áp
và suy tuần hoàn nên được điều trị bằng những biện pháp thích hợp như truyền
dịch tĩnh mạch và/hoặc thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm. Trong trường hợp
có triệu chứng ngoại tháp nặng, nên dùng các thuốc kháng cholinergic. Nên tiếp
tục giám sát và theo dõi chặt chẽ về mặt y khoa cho đến khi bệnh nhân hồi phục.
BẢO QUẢN