Các nghiên cứu trong ống nghiệm và trên cơ thể
sống cho thấy cinnarizine giảm co bóp cơ trơn gây ra bởi các tác nhân hoạt mạch
khác nhau (histamine, angiotensine, bradykinine, nicotine, acétylcholine,
adrénaline, noradrénaline, BaCl2) và gây ra bởi sự khử cực KCl. Hoạt
tính chống co cơ đặc hiệu được quan sát thấy trên cơ trơn mạch máu. Cinnarizine
tác động trên đáp ứng co cơ của các sợi cơ trơn khử cực bằng cách ức chế chọn
lọc luồng ion calci đi vào tế bào bị khử cực nhờ đó giảm thiểu sự hiện diện của
ion calci cần cho việc cảm ứng và duy trì co cơ. Cinnarizine không độc hại và
không cản trở các chức năng sinh lý quan trọng (hệ thần kinh trung ương, chức
năng tuần hoàn, hô hấp).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Trên chuột cống thí nghiệm, cinnarizine đánh
dấu đồng vị phóng xạ được hấp thu nhanh chóng từ đường tiêu hóa và đạt nồng độ
đỉnh trong vòng 1 giờ ở máu, gan, thận, tim, lách, phổi và não. Chuyển hóa thuốc
mạnh mẽ xảy ra trong vòng 1/2 giờ sau khi uống và sau 32 giờ nồng độ thuốc trong
mô là không đáng kể. Thuốc được chuyển hóa đặc biệt thông qua việc khử N-alkyl
hóa. Khoảng 2/3 chất chuyển hóa được thải ra ở phân và 1/3 ở nước tiểu. Thải trừ
thuốc hầu như hoàn toàn trong vòng 5 ngày sau khi dùng thuốc.
CHỈ ĐỊNH
- Rối loạn tiền đình : điều trị duy trì các
triệu chứng rối loạn mê đạo bao gồm chóng mặt, hoa mắt, choáng váng, ù tai, rung
giật nhãn cầu, buồn nôn và nôn.
- Phòng ngừa say sóng, say tàu xe và phòng ngừa
chứng đau nửa đầu.
- Điều trị duy trì các triệu chứng bắt nguồn từ
mạch máu não bao gồm hoa mắt, choáng váng, ù tai, nhức đầu nguyên nhân mạch máu,
rối loạn kích thích và khó hòa hợp, mất trí nhớ, kém tập trung.
- Điều trị duy trì các triệu chứng rối loạn
tuần hoàn ngoại biên bao gồm bệnh Raynaud, xanh tím đầu chi, đi khập khễnh cách
hồi, rối loạn dinh dưỡng, loét giãn tĩnh mạch, tê rần, co thắt cơ buổi tối, lạnh
đầu chi.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH