Chung cho mọi trường hợp :
- Chỉ có các bác sỹ có kinh nghiệm với điều trị
ức chế miễn dịch và có điều kiện kiểm tra theo dõi thường xuyên (thăm khám toàn
diện lâm sàng, huyết áp, các xét nghiệm) mới được kê thuốc Sandimmun Neoral.
Bệnh nhân ghép cơ quan caẩn được điều trị tại các trung tâm có đầy đủ các phương
tiện cần thiết đồng thời người bác sỹ chịu trách nhiệm điều trị duy trì vaử tiếp
tục cần phải được biết mọi thông tin cần thiết để chăm sóc bệnh nhân được tốt.
- Dùng cho trẻ em : Tài liệu về việc sử dụng
Sandimmun Neoral còn hạn chế ngoại trừ trường hợp hội chứng thận hư. Việc sử
dụng thuốc cho bệnh nhân dưới 16 tuổi trong các chỉ định khác ngoài cấy ghép cơ
quan do vậy không được đề nghị trừ trường hợp hội chứng thận hư.
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến việc chuyển
sang dùng các dạng thuốc ciclosporin khác :
Khi đã bắt đầu điều trị với Sandimmun Neoral,
cần theo dõi sát nồng độ ciclosporin trong máu, creatinine huyết thanh và huyết
áp trước khi chuyển sang một dạng ciclosporin uống khác vì chắc chắn sẽ có sự
khác biệt về sinh khả dụng. Nguyên tắc này không áp dụng khi chuyển từ Sandimmun
Neoral viên nang mềm sang dạng Sandimmun Neoral dung dịch uống vì hai dạng này
có hoạt tính sinh học giống nhau.
Việc sử dụng kết hợp với các thuốc ức chế
miễn dịch khác :
Sandimmun Neoral không được dùng kết hợp với
các thuốc ức chế miễn dịch khác ngoại trừ corticosteroid, mặc dù có một số trung
tâm dùng thuốc này kết hợp với azathioprine và corticosteroid hay các thuốc ức
chế miễn dịch khác (tất cả đều với liều thấp) cho bệnh nhân ghép cơ quan nhằm
làm giảm sự xuất hiện các tác dụng ngoại ý về chức năng hay cấu trúc của thận.
Nếu việc dùng kết hợp được thực hiện cần lưu ý tới nguy cơ ức chế miễn dịch quá
mức, cùng với sự tăng nhạy cảm với nhiễm trùng và sự hình thành u lympho.
Tác động tới chức năng thận :
Tăng creatinine và urê huyết là một biến chứng
khá thường gặp và nặng có thể xuất hiện trong một vài tuần đầu điều trị, tuy vậy
các rối loạn chức năng này thường tùy thuộc vào liều dùng và sẽ trở về bình
thường khi giảm liều. Khi điều trị lâu dài có thể dẫn tới thay đổi về cấu trúc
của thận (như xơ kẽ) đòi hỏi phải phân biệt với các dấu hiệu thải ghép mãn tính
ở bệnh nhân ghép thận.
Tác động tới chức năng gan :
Sandimmun Neoral cũng có thể làm tăng bilirubin
huyết thanh phụ thuộc liều dùng và có thể trở về bình thường được và hiếm gặp
hơn, tăng enzyme gan. Do vậy cần kiểm tra thường xuyên các chỉ số về chức năng
gan và thận, cùng với việc giảm liều nếu cần.
Xác định nồng độ ciclosporin trong máu :
- Nồng độ ciclosporin trong máu được xác định
tốt nhất bằng cách dùng một loại kháng thể đặc hiệu đơn dòng vô tính. Một chọn
lựa khác là có thể dùng HPLC cũng định lượng được dạng thuốc không đổi. Thử
nghiệm về huyết tương hay huyết thanh cần có một bảng mẫu ghi riêng rẽ (thời
gian và nhiệt độ). Bắt đầu theo dõi nồng độ thuốc trong máu ở bệnh nhân ghép gan
cần thực hiện phương thức dùng kháng thể đặc hiệu đơn dòng hay tiến hành song
song cả phương pháp trên cùng việc dùng kháng thể không đặc hiệu đơn dòng để đảm
bảo có được nồng độ có tác dụng ức chế miễn dịch thích hợp.
- Cần lưu ý nồng độ ciclosporin trong máu,
trong huyết tương hay huyết thanh chỉ là một trong nhiều yếu tố tạo nên tình
trạng lâm sàng của bệnh nhân. Các kết quả thu được do vậy chỉ giúp cho việc định
hướng liều dùng trong mối tương quan với thực tế lâm sàng và các chỉ số về xét
nghiệm (thông tin chi tiết có trong cuốn Hướng dẫn thực hành theo dõi Sandimmun
được cung cấp theo nhu cầu).
Theo dõi huyết áp :
Cần kiểm tra huyết áp đều đặn trong khi điều
trị Sandimmun Neoral và dùng các thuốc chữa tăng huyết áp thích hợp khi cần
thiết.
Các thay đổi về sinh hóa :
- Điều trị với Sandimmun đôi khi có thể làm
tăng nhẹ, có hồi phục lipid máu nên cần định lượng lipid trước và sau khi điều
trị được 1 tháng. Nếu trường hợp này xảy ra có thể thực hiện chế độ ăn kiêng và
nếu có thể, giảm liều Sandimmun Neoral.
- Bệnh nhân điều trị Sandimmun Neoral cần tránh
chế độ ăn nhiều kali và không được dùng các thuốc có kali hay thuốc lợi tiểu giữ
kali.Vì Sandimmun Neoral đôi khi gây ra hoặc thúc đẩy tình trạng tăng kali máu,
hoặc làm giảm magiê, cần theo dõi kali và magiê huyết thanh ở những bệnh nhân có
rối loạn chức năng thận nặng.
- Thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân tăng
acid uric máu.
Các thuốc phối hợp (xem thêm trong Tương tác
thuốc) :
- Bệnh nhân vẩy nến không được dùng đồng thời
các thuốc ức chế bêta hoặc lợi tiểu.
- Tiêm chủng có thể kém hiệu quả khi đang điều
trị với Sandimmun Neoral và cần tránh sử dụng vaccin sống.
Phát hiện sớm các rối loạn tăng sinh mô bạch
huyết và các khối u ác tính :
Cũng như với các thuốc ức chế miễn dịch khác,
cần lưu ý tới các nguy cơ rối loạn tăng sinh mô bạch huyết và khối u ác tính
(đặc biệt là ở da). Bệnh nhân dùng Sandimmun Neoral lâu dài phải được theo dõi
chặt chẽ để đảm bảo phát hiện sớm các rối loạn này và cần ngừng điều trị khi các
dấu hiệu tiền ác tính hoặc ác tính được xác định.
Phản ứng với tia tử ngoại :
Do nguy cơ về các biến đổi da ác tính, bệnh
nhân điều trị Sandimmun Neoral, đặc biệt ở những người điều trị bệnh vẩy nến hay
viêm da dị ứng, cần được khuyến cáo tránh phơi nắng dưới ánh sáng mặt trời mà
thiếu phương tiện bảo vệ và phải tránh điều trị đồng thời tia tử ngoại B cũng
như trị liệu quang hóa học PUVA (xem thêm trong Tương tác thuốc).
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Với thức ăn :
Uống nước bưởi cùng lúc với uống thuốc được
biết làm tăng tính khả dụng sinh học của ciclosporin.
Tương tác thuốc :
Những thuốc được biết gây ra tác dụng hiệp lực
gây độc với thận : acyclovir, aminoglycosides (bao gồm cả gentamycin và
tobramycin), amphotericin B, ciprofloxacin, furosemide, mannitol, melphalan,
trimethoprim (+ sulfamethoxazole), vancomycin, NSAIDs (bao gồm diclofenac,
indomethacin, naproxen và sulindac).
Những thuốc được biết làm giảm nồng độ
cilosporin : barbiturate, carbamazepine, phenytoin, nafcillin, sulfadimidine
dùng tĩnh mạch, rifampicin, octreotide, probucol, trimethoprim dùng tĩnh mạch.
Những thuốc được biết làm tăng nồng độ
ciclosporin trong máu : kháng sinh nhóm chloroquine, macrolide (erythromycin,
josamycin, ponsinomycin, pristinamycin), ketoconazole (và, vơữi tác dụng kém rõ
ràng hơn, fluconazole và itraconazole), diltiazem, nicardipine, verapamil,
metoclopramide, thuốc tránh thai uống, danazol, methyprednisolone (liều cao),
allopurinol, amiodarone, acid cholic và các dẫn xuất, doxycycline, propafenone.
Một số thuốc khác :
- Tiêm chủng có thể bị giảm tác dụng trong khi
điều trị với Sandimmun Neoral và cần tránh dùng các vaccin sống.
- Việc dùng đồng thời nifedipine với Sandimmun
Neoral có thể làm tăng tỷ lệ phì đại lợi so với dùng Sandimmun Neoral đơn trị.
- Sử dụng đồng thời diclofenac và Sandimmun
được biết làm tăng đáng kể sinh khả dụng của diclofenac, có thể gây biến chứng
suy thận có hồi phục, có thể nhất là do hiện tượng giảm lượng thuốc không được
hấp thụ (first-past effect) vốn ở mức cao của diclofenac. Sử dụng đồng thời các
thuốc NSAID có lượng thuốc không được hấp thụ thấp (như acid acetylsalicylic)
với Sandimmun thường không làm tăng sinh khả dụng của các thuốc đó.
- Sandimmun có thể làm giảm độ thanh thải của
digoxin, colchicine, lovastatin và prednisolone. Điều này dẫn tới ngộ độc
digoxin và làm tăng nguy cơ của lovastatin và colchicine gây độc cơ (gồm đau và
nhược cơ), viêm cơ và globin cơ niệu kịch phát.
Đề nghị : Trong những trường hợp việc
dùng thuốc phối hợp là không tránh khỏi, cần tuân theo những khuyến nghị dưới
đây :
- Với những thuốc có tác dụng hiệp đồng độc với
thận : Cần theo dõi sát chức năng thận (đặc biệt là creatinine huyết thanh).
Trường hợp chức năng thận bị suy giảm đáng kể cần phải giảm liều hoặc chuyển
sang phương thức điều trị khác.
- Với những thuốc làm giảm hoặc tăng sinh khả
dụng của ciclosporin :
Ở những người được ghép cần xác định nồng độ
ciclosporin máu thường xuyên, đặc biệt khi bắt đầu hay khi ngừng điều trị một
loại thuốc khác, và điều chỉnh liều Sandimmun Neoral nếu cần.
Với các chỉ định khác ngoài ghép cơ quan, nồng
độ ciclosporin máu không thật giá trị vì mối tương quan giữa nồng độ thuốc trong
máu và hiệu quả điều trị kém thuyết phục hơn. Trong trường hợp dùng các thuốc
làm tăng nồng độ ciclosporin, cần kiểm tra thường xuyên hơn chức năng thận và
theo dõi sát các tác dụng phụ của ciclosporin có thể thích hợp hơn là định lượng
nồng độ thuốc trong máu.
- Cần tránh điều trị đồng thời với nifedipine ở
những bệnh nhân trước đã có biểu hiện chứng phì đại lợi khi điều trị với
Sandimmun.
- Các thuốc NSAID được biết có tỷ lệ không được
hấp thụ cao (first-pass effect) như diclofenac, nên cần được dùng với liều thấp
hơn ở người không điều trị với ciclosporin.
- Nếu điều trị đồng thời với digoxin,
colchicine hoặc lovastatin cần phải theo dõi chặt chẽ về lâm sàng do vậy các tác
dụng độc có thể được phát hiện sớm và tiến hành giảm liều hay ngừng thuốc.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng ngoại ý dưới đây gặp ở Sandimmun
cũng có thể xảy ra với Sandimmun Neoral. Các triệu chứng này thường liên quan
đến liều dùng và đáp ứng với việc giảm liều.
Các tác dụng phụ thường giống nhau ở tất cả các
chỉ định của thuốc, mặc dù có sự khác biệt về tần số xuất hieến và mức độ nặng.
Do dùng liều cao hơn trong ghép cơ quan nên các tác dụng ngoại ý cũng thường gặp
hơn và nặng hơn ở những người nhận ghép so với bệnh nhân được điều trị cho các
bệnh khác.
Những tác dụng phụ hay gặp nhất là :
Giảm chức năng thận (chiếm khoảng 10-50%), tăng
huyết áp (15-40%), run (10-20%), rậm lông (15-40%), rối loạn tiêu hóa (gồm ăn
kém ngon, buồn nôn, nôn, đau bụng, viêm dạ dày, viêm dạ dày ruột, ỉa chảy;
20-40%); phì đại lợi (10-30%), suy gan (khoảng 20%), nhiễm trùng (15-35%), mệt
mỏi (tới khoảng 30%), đau đầu (tới khoảng 15%) và dị cảm (đặc biệt là cảm giác
nóng rát ở tay và chân, thường trong tuần đầu điều trị, tỷ lệ 10-50%).
Các tác dụng phụ dưới đây được ghi nhận là ít
gặp hơn (khoảng 1-3%) :
Mụn trứng cá, ban (có thể dị ứng), tăng đường
huyết, tăng axít uríc huyết, tăng kali huyết, giảm magiê huyết ; thiếu máu ;
loét dạ dày tá tràng, phù, tăng cân, co giật ; đau bụng kinh hay mất kinh có thể
phục hồi được. Ở bệnh nhân viêm màng bồ đào cá biệt có trường hợp xuất huyết
(tại mắt và nơi khác).
Các tác dụng ngoại ý khác (khoảng < 1%) được
liệt kê dưới đây :
Cảm giác nóng bừng, ngứa, chuột rút, yếu cơ,
bệnh về cơ ; tăng lipid máu, rối loạn tăng sinh mô bạch huyết (đặc biệt thâm
nhiễm lymphô bào lành tính và u lymphô bào B) ; giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu ;
thiếu máu cục bộ cơ tim ; viêm tụy cấp ; lẫn lộn ; rối loạn ý thức, rối loạn
thính giác, rối loạn thị giác, sốt cao, chứng vú to ở nam giới. Có một vài báo
cáo về viêm ruột kết.
Các dấu hiệu của bệnh não, rối loạn thị giác,
vận động và mất ý thức được ghi nhận, đặc biệt ở bệnh nhân ghép gan.
Có một vài báo cáo gặp giảm số lượng tiểu cầu,
trong một vài trường hợp có liên quan với thiếu máu tan máu ở mao mạch và suy
thận (haemolytic uraemic syndrome) được ghi nhận. Cũng có ít trường hợp báo cáo
về co giật.
Vì điều trị cới Sandimmun có thể đôi khi dẫn
tới tăng lipid máu nhẹ có thể hồi phục, cần định lượng lipid máu trước khi điều
trị và sau đó một tháng. Trường hợp thấy tăng cần giảm liều và/hoặc giảm lượng
chất béo ăn vào.
Các rối loạn khối u và tăng sinh mô bạch
huyết :
Có ghi nhận về khối u ác tính và rối loạn tạo
mô bạch huyết, nhưng không có sự khác biệt lớn về tỷ lệ và sự phân bố so với
những bệnh nhân dùng các thuốc ức chế miễn dịch khác.
Rối loạn tăng sinh mô bạch huyết xuất hiện ở
một vài bệnh nhân vẩy nến điều trị với Sandimmun nhưng sẽ hết sau khi ngừng
thuốc ngay sau đó.
Diễn biến ác tính (bao gồm cả bệnh u lymphô
Hodgkin's) đã được ghi nhận ở bệnh nhân có hội chứng thận hư được điều trị các
thuốc ức chế miễn dịch (bao gồm cả Sandimmun).
Viêm khớp dạng thấp thường gắn liền với nguy cơ
rối loạn tăng sinh mô bạch huyết và rối loạn này có thể tăng lên do tác dụng ức
chế miễn dịch của Sandimmun Neoral. Cá biệt có báo cáo về u lymphô ác tính ở
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị Sandimmun.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều lượng :
Dùng thuốc Sandimmun Neoral đường uống được
khuyến nghị trong hầu hết các trường hợp. Các ngoại lệ được liệt kê trong phần
thông tin về dạng thuốc Sandimmun truyền tĩnh mạch.
Sandimmun Neoral được hấp thu nhanh hơn (thời
gian để thuốc đạt nồng độ tối đa trung bình sớm hơn 1 giờ và nồng độ thuốc tối
đa trung bình cao hơn 59%) và cho thấy tính sinh khả dụng trung bình (AUC) cao
hơn 29% với liều duy trì dùng cho các bệnh nhân ghép thận. Ở những bệnh nhân hấp
thu ciclosporin kém từ Sandimmun (đặc biệt với liều uống cao) sự khác biệt về
sinh khả dụng với Sandimmun Neoral có thể tới hơn 100%.
Tổng liều lượng dùng hàng ngày của Sandimmun
Neoral nên chia làm hai lần (sáng và tối).
Xem thêm phần "Chuyển từ điều trị Sandimmun
sang Sandimmun Neoral" để biết chi tiết về liều lượng và theo dõi chức năng thận
ở những bệnh nhân trước đó đã điều trị với Sandimmun.
Ghép cơ quan :
Mức liều được đề nghị dưới đây chỉ mang tính
chất hướng dẫn gợi ý. Cần theo dõi đều đặn nồng độ ciclosporin trong máu ; công
việc này có thể thực hiện được bằng phương pháp RIA dựa trên các kháng thể đơn
dòng vô tính. Kết quả thu được giúp cho việc quyết định liều dùng thực tế để đạt
được nồng độ thuốc theo nhu cầu (xem mục "Xác định nồng độ ciclosporin trong
máu" trong phần Thận trọng lúc dùng).
Ghép tạng :
Cần bắt đầu với liều từ 10-15 mg/kg chia làm 2
lần trước phẫu thuật tối đa 12 giờ và tiếp tục duy trì hàng ngày trong 1-2 tuần
sau mổ. Sau đó giảm dần liều lượng cho tới khi đạt được liều duy trì khoảng 2-6
mg/kg/ngày chia làm 2 lần (tùy theo nồng độ thuốc trong máu). Tổng liều lượng
dùng hàng ngày của Sandimmun Neoral nên chia làm hai lần.
Ở các bệnh nhân ghép thận các liều dùng ở mức
thấp trong khoảng trên (< 3-4 mg/kg/ngày), tạo được mức nồng độ tối thiểu dưới
50-100 ng/ml, thường gắn liền với nguy cơ tăng thải ghép.
Khi dùng Sandimmun Neoral cùng với các thuốc ức
chế miễn dịch khác (như corticosteroid hay khi dùng phối hợp 3-4 thuốc) có thể
cần giảm liều (ví dụ 3-6 mg/kg/ngày trong giai đoạn đầu điều trị).
Ghép tủy xương :
Liều ban đầu được dùng một ngày trước khi ghép,
nên dùng đường truyền tĩnh mạch. Nếu bệnh nhân bắt đầu với đường uống cần dùng
với liều 12,5-15 mg/kg/ngày, bắt đầu 1 ngày trước khi ghép.
Điều trị duy trì với liều khoảng 12,5
mg/kg/ngày phải được thực hiện từ 3-6 tháng (nên điều trị 6 tháng) trước khi
giảm dần liều cho tới khi ngừng thuốc là một năm sau khi ghép.
Có thể phải dùng liều cao hơn hoặc theo đường
tĩnh mạch trong trường hợp có rối loạn tiêu hóa làm giảm hấp thu.
Tổng liều lượng dùng hàng ngày của Sandimmun
Neoral nên chia làm hai lần (sáng và tối).
Bệnh cơ quan ghép chống lại vật chủ (GVHD) có
thể xuất hiện sau khi ngừng thuốc Sandimmun nhưng thường đáp ứng với việc dùng
lại thuốc. Cần dùng với liều thấp trong trường hợp điều trị GVHD nhẹ, mạn tính.
Các chỉ định khác ngoài ghép :
Hiện chưa có kinh nghiệm với dạng thuốc dùng
ngoài đường tiêu hóa với các chỉ định ngoài ghép cơ quan.
Viêm màng bồ đào nội sinh :
Liều dùng :
Bắt đầu uống 5 mg/kg/ngày chia 2 lần tới khi
tình trạng viêm và thị lực được cải thiện. Trường hợp bệnh dai dẳng khó chữa có
thể phải tăng liều tới 7 mg/kg/ngày trong một thời gian ngắn.
Có thể kết hợp thêm điều trị toàn thân steroid
(ví dụ prednisone 0,2-0,6 mg/kg/ngày) với Sandimmun Neoral để đẩy mạnh quá trình
lui bệnh lúc đầu hoặc nhằm chống lại những đợt viêm mắt và/hoặc nếu dùng đơn trị
với loại này không hoàn toàn kiềm chế được bệnh. Cần ngừng thuốc Sandimmun
Neoral nếu không đạt được cải thiện sau ba tháng.
Trong khi điều trị duy trì, cần giảm dần tới
liều hữu dụng thấp nhất và liều này không vượt quá 5 mg/kg/ngày trong thời kỳ
lui bệnh.
Theo dõi chức năng thận :
Sandimmun Neoral có thể ảnh hưởng tới chức năng
thận và do vậy cần xác định giá trị tin cậy về creatinine huyết thanh trước khi
điều trị. Giá trị này cần được lấy từ ít nhất 2 lần xét nghiệm, cả hai lần đều
cho thấy chức năng thận bình thường khi dùng các cách xác định độ thanh thải
creatinine thích hợp (như DETTLI). Định lượng creatinine huyết thanh và đo huyết
áp cần được tiến hành hàng tuần trong vòng 4 tuần đầu điều trị và hàng tháng
tiếp theo, hoặc thường xuyeận hơn khi tăng liều. Cần giảm liều khoảng 25-50% nếu
creatinine huyết thanh vượt quá mức thông thường 30% - ngay cả khi giá trị này
vẫn nằm trong giới hạn bình thường - và ngừng thuốc Sandimmun Neoral nếu chỉ số
đó không giảm trong vòng một tháng. Trong trường hợp creatinine vượt quá giá trị
thông thường 20-30% trong một thời gian ngắn, cần loại trừ khả năng tăng không
do thận bằng cách làm xét nghiệm nhiều lần. Nếu huyết áp tăng đáng kể so với mức
bình thường cần điều trị hạ áp và giảm liều Sandimmun Neoral hoặc ngừng thuốc
nếu tình trạng bình thường không đạt được sau đó.
Các chỉ định về da liễu :
Liều dùng cho bệnh vẩy nến :
Để tạo tác dụng lui bệnh, liều dùng ban đầu
(uống) được đề nghị là 2,5 mg/kg/ngày chia làm 2 lần, tăng liều nếu tình trạng
bệnh không được cải thiện sau khi điều trị 4 tuần với mức 0,5-1 mg/kg hàng tháng
cho tới liều 5 mg/kg/ngày. Ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đạt được sự
cải thiện tại nơi tổn thương trong vòng 4 tuần với liều 5 mg/kg/ngày, hay ở
những người có mức liều hữu dụng không phù hợp với các hướng dẫn về an toàn đưa
ra dưới đây (xem phần Chú ý đặc biệt). Liều ban đầu 5 mg/kg/ngày được áp dụng
cho những bệnh nhân trong tình trạng cần được cải thiện nhanh.
Điều trị duy trì liều lượng cần được điều chỉnh
trong từng trường hợp cụ thể cho tới mức liều hữu dụng thấp nhất có thể được và
không vượt quá 5 mg/kg/ngày. Nếu tình trạng lui bệnh được duy trì trong thời
gian 6 tháng, cần giảm liều Sandimmun Neoral cho tới hết, mặc dù nguy cơ tái
phát sau khi ngừng thuốc là rất cao.
Liều dùng trong viêm da dị ứng :
Mức liều được đề nghị ở người lớn và thanh niên
hơn 16 tuổi là 2,5-5 mg/kg/ngày uống làm 2 lần. Nếu liều ban đầu 2,5 mg/kg/ngày
không đạt được đáp ứng tốt trong 2 tuần điều trị, có thể tăng nhanh lên tối đa
là 5 mg/kg. Trong các trường hợp rất nặng, tác dụng lui bệnh tốt và nhanh thường
đạt được với liều ban đầu 5 mg/kg/ngày.
Kinh nghiệm với Sandimmun trong điều trị dài
ngày viêm da dị ứng còn hạn chế và do vậy từng đợt điều trị cụ thể cần được áp
dụng và tối đa là 8 tuần.
Cần ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đáp
ứng thích đáng sau một tháng điều trị với liều 5 mg/kg/ngày.
Chú ý đặc biệt :
- Trước khi điều trị bệnh nhân phải được thông
báo kỹ về những lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra khi điều trị Sandimmun Neoral,
và về những vấn đề hay gặp phải do bệnh tái phát sau khi ngừng thuốc.
- Bệnh nhân suy thận, tăng huyết áp không kiềm
chế được hay bị nhiễm trùng hoặc có các biểu hiện ác tính ngoại trừ ở da, không
được điều trị với Sandimmun Neoral. Lưu ý ở những bệnh nhân tăng acid uric
huyết.
- Ngừng Sandimmun Neoral nếu có tăng huyết áp
không đáp ứng với điều trị.
- Theo dõi chức năng thận : xem phần "Viêm màng
bồ đào nội sinh" ở trên.
- Bệnh vẩy nến và khối u da: sự tiến triển của
các biểu hiện ác tính (đặc biệt tại da) được ghi nhận trên các bệnh nhân được
điều trị với Sandimmun cũng như khi dùng các phương pháp điều trị khác. Những
tổn thương không đặc trưng cho vẩy nến hoặc có khả năng là ác tính hay tiền ác
tính do vậy phải được sinh thiết trước khi điều trị Sandimmun Neoral. Những bệnh
nhân có thay đổi ác tính hay tiền ác tính tại da chỉ được dùng Sandimmun sau khi
đã điều trị thích đáng và chỉ khi không còn phương pháp điều trị hiệu quả nào
khác (xem Chống chỉ định).
- Viêm da dị ứng và nhiễm trùng da : nhiễm
herpes simplex tiến triển cần được điều trị hết trước khi bắt đầu điều trị
Sandimmun Neoral nhưng không nhất thiết phải ngừng thuốc khi thấy xuất hiện
trong quá trình điều trị, chỉ trừ trường hợp viêm nhiễm nặng. Nhiễm trùng da do
Staphylococcus aureus không phải là chống chỉ định tuyệt đối dùng Sandimmun
Neoral, nhưng cần được điều trị với thuốc kháng khuẩn thích hợp. Tuy nhiên không
được dùng erythromycin dạng uống vì được biết có khả năng làm tăng lượng
ciclosporin trong máu (xem Tương tác thuốc). Nếu không còn chọn lựa nào khác thì
phải theo dõi sát nồng độ ciclosporin trong máu, chức năng thận và các tác dụng
ngoại ý của ciclosporin.
Viêm khớp dạng thấp :
Liều dùng :
Trong 6 tuần đầu, uống 3 mg/kg/ngày chia làm 2
lần. Nếu chưa đạt được tác dụng tốt, cần tăng dần tới liều tối đa là 5 mg/kg,
tùy thuộc vào các điều kiện đưa ra dưới đây. Cần ngừng điều trị nếu không đạt
được đáp ứng rõ ràng sau 3 tháng. Điều trị duy trì cần điều chỉnh liều cho từng
trường hợp cụ thể tùy thuộc vào khả năng dung nạp. Sandimmun Neoral có thể được
sử dụng cùng với corticosteroid liều thấp và/hoặc NSAID.
Chú ý đặc biệt :
- Trước khi điều trị bệnh nhân phải được thông
báo kỹ về những lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra khi điều trị Sandimmun Neoral.
- Những bệnh nhân suy thận, cao huyết áp không
kiềm chế được hoặc bị nhiễm trùng, hay bất cứ biểu hiện ác tính nào không được
điều trị với Sandimmun Neoral (xem Chống chỉ định). Lưu ý những bệnh nhân tăng
acid uric máu hoặc tăng kali huyết.
- Sandimmun Neoral có thể làm ảnh hưởng tới
chức năng thận do vậy cần định lượng mức creatinine huyết thanh tin cậy trước
khi trước khi điều trị. Kết quả này cần được xác định từ ít nhất hai lần xét
nghiệm, cả hai lần đều cho thấy chức năng thận bình thường khi dùng các cách xác
định độ thanh thải creatinine thích hợp (như DETTLI). Định lượng creatinine
huyết thanh và đo huyết áp cần được tiến hành hàng tuần trong vòng 4 tuần đầu
điều trị và hàng tháng tiếp theo, hoặc thường xuyên hơn khi taống liều, và khi
NSAID được bổ sung vào phác đồ điều trị hoặc khi tăng liều thuốc NSAID đang
dùng. Cần giảm liều creatinine huyết thanh vượt quá mức thông thường 30% từ 2
lần trở lên, ngay cả khi nó vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Trường hợp
creatinine vượt quá mức thông thường 20-30%, sự tăng nhất thời không do thận
phải được loại trừ bằng cách làm xét nghiệm nhiều lần. Trường hợp chỉ số xét
nghiệm tăng hơn 50% cần giảm một nửa liều dùng Sandimmun Neoral. Cần ngừng điều
trị nếu không có đáp ứng với việc giảm liều trong vòng một tháng.
- Nếu huyết áp tăng đáng kể so với mức bình
thường cần điều trị hạ áp thích hợp và giảm liều Sandimmun Neoral hoặc ngừng
thuốc nếu tình trạng bình thường không đạt được sau đó.
- Cũng như với các phương pháp điều trị ức chế
miễn dịch lâu dài khác, cần lưu ý tới khả năng tăng sinh mô bạch huyết.
Hội chứng thận hư :
Liều dùng :
Để tạo tác dụng lui bệnh nên uống ngày hai lần,
người lớn 5 mg/kg/ngày và trẻ em 6 mg/kg/ngày, ngoại trừ ở bệnh nhân suy thận,
liều ban đầu không nên vượt quá 2,5 mg/kg/ngày (Chống chỉ định khi creatinine
huyết thanh > 200 mmol/l
ở người lớn và > 140
mmol/l ở trẻ
em).
Các bệnh nhân (đặc biệt nhóm kháng steroid)
không đáp ứng thích đáng với Sandimmun Neoral đơn trị cần được dùng đồng thời
steroid uống với liều thấp. Sau ba tháng điều trị, nếu bệnh không được cải thiện
cần ngưng trị với Sandimmun Neoral.
Liều dùng cần được điều chỉnh cho từng cá thể
tùy theo mức độ hiệu quả về phục hồi chức năng (protein niệu) và độ an toàn (chủ
yếu là creatinine huyết thanh), nhưng không vượt quá 5 mg/kg/ngày ở người lớn và
6 mg/kg/ngày cho trẻ em.
Khi điều trị duy trì cần giảm liều dần tới mức
hữu hiệu thấp nhất.
Theo dõi chức năng thận :
Sandimmun Neoral có thể làm ảnh hưởng tới chức
năng thận nên cần định lượng creatinine huyết thanh ít nhất 2 lần trước khi điều
trị. Định lượng creatinine huyết thanh và đo huyết áp cần được tiến hành hàng
tuần trong vòng 4 tuần đầu điều trị và hàng tháng tiếp theo, hoặc thường xuyên
hơn khi tăng liều. Cần giảm liều khoảng 25-50% nếu creatinine huyết thanh vượt
quá mức thông thường hơn 30%, trường hợp creatinine vượt quá mức thông thường
20-30%, sự tăng nhất thời ngoài thận phải được loại trừ bằng cách làm xét nghiệm
nhiều lần.
Nếu huyết áp tăng cao đáng kể so với mức bình
thường cần điều trị hạ áp thích hợp và giảm liều Sandimmun Neoral hoặc ngừng
thuốc nếu tình trạng bình thường không đạt được sau đó.
Những bệnh nhân có các chỉ số về chức năng thận
bất thường phải được bắt đầu với liều điều trị 2,5 mg/kg/ngày và được theo dõi
chặt chẽ. Không dùng Sandimmun Neoral cho người lớn có mức creatinine > 200
mmol/l
(> 140 mmol/l
ở trẻ em) (xem Chống chỉ định). Do bản thân hội chứng thận hư tự nó đã bao gồm
sự suy giảm về chức năng thận, những thay đổi do Sandimmun Neoral có thể khó
được phát hiện, và điều này đã giải thích tại sao có một vài báo cáo về những
thay đổi về cấu trúc thận không kèm tăng creatinine huyết thanh. Do vậy sinh
thiết thận cần được quan tâm đến ở những bệnh nhân tổn thương tối thiểu phụ
thuộc steroid sử dụng Sandimmun Neoral trong thời gian hơn một năm.
Hiện chưa có tài liệu về Sandimmun Neoral ở trẻ
nhỏ và tài liệu về Sandimmun ở lứa tuổi này còn hạn chế mặc dù không có rối loạn
nào được báo cáo ở trẻ hơn một tuổi với liều dùng tiêu chuẩn. Một vài nghiên cứu
về nhi khoa cho thấy rằng trẻ em cần và dung nạp liều thuốc tính theo kg thể
trọng cao hơn ở người lớn. Bệnh nhân với các rối loạn suy gan nặng cần được theo
dõi chặt chẽ creatinine huyết thanh và, nếu có thể nồng độ ciclosporin, kèm theo
là việc điều chỉnh liều nếu cần thiết.
Chuyển từ điều trị Sandimmun sang Sandimmun
Neoral :
Các tài liệu hiện có cho thấy sau khi chuyển từ
Sandimmun sang Sandimmun Neoral với liều theo tỷ lệ 1:1, nồng độ thuốc tối thiểu
của ciclosporin trong máu là tương đương. Tuy vậy nồng độ đỉnh trong huyết tương
(Cmax) và tổng lượng thuốc được hấp thụ (AUC) đạt được mức cao hơn ở
nhiều bệnh nhân (trung bình là 59% và 29% theo thứ tự) và có một tỷ lệ nhỏ các
trường hợp hiện tượng tăng này rõ rệt đủ để biểu hiện trên lâm sàng. Mức độ thay
đổi liên quan chặt chẽ với nồng độ ciclosporin được hấp thu so với việc dùng
Sandimmun trước đó, được biết là loại thuốc có tính khả dụng sinh học dễ thay
đổi (xem Dược lực và Thận trọng lúc dùng).
Bệnh nhân với nồng độ thuốc tối thiểu hay biến
đổi hoặc ở người cần dùng liều Sandimmun rất cao có thể là những người hấp thu
kém hay hấp thu không ổn định ciclosporin (như bệnh nhân xơ túi mật, bệnh nhân
ghép gan có kèm ứ mật hay việc bài tiết mật kém, trẻ em hoặc một vài bệnh nhân
ghép thận) có thể có khả năng hấp thu tốt khi chuyển sang dùng Sandimmun Neoral.
Do vậy ở nhóm người này việc tăng tính khả dụng sinh học của ciclosporin có thể
mạnh hơn sau khi chuyển với liều tương đương từ Sandimmun sang Sandimmun Neoral
và liều dùng Sandimmun Neoral do đó cần điều chỉnh xuống cho phù hợp với nồng độ
thuốc tối thiểu cụ thể cần đạt.
Cần nhấn mạnh rằng sự hấp thu của ciclosporin
từ Sandimmun Neoral ít bị thay đổi hơn và mối tương quan giữa nồng độ
ciclosporin tối thiểu và lượng thuốc được hấp thụ (AUC) chặt chẽ hơn nhiều so
với Sandimmun. Điều này làm cho nồng độ ciclosporin tối thiểu ổn định hơn và
đáng tin cậy hơn trong quá trình theo dõi điều trị.
Do việc chuyển đổi từ Sandimmun sang Sandimmun
Neoral có thể làm tăng lượng thuốc được hấp thu nên cần phải lưu ý tới những qui
định dưới đây :
Bệnh nhân ghép cơ quan :
Sandimmun Neoral cần được bắt đầu điều trị với
liều tương đương với liều Sandimmun. Cần theo dõi Cmin khoảng 4-7
ngày sau khi chuyển sang dùng Sandimmun Neoral và cần theo dõi các chỉ số an
toàn lâm sàng như creatinine huyết thanh và huyết áp trong vòng 2 tháng đầu sau
khi chuyển thuốc và điều chỉnh liều dùng nếu nồng độ thuốc tối thiểu vượt ra
ngoài mức liều điều trị và/hoặc khi các thông số an toàn lâm sàng thay đổi.
Bệnh nhân với các chỉ định khác ngoài ghép
cơ quan :
Sandimmun Neoral cần được bắt đầu với liều
tương đương với Sandimmun trong trường hợp bác sỹ kê thoa thấy sự giảm hiệu quả
điều trị có thể làm xuất hiện nguy cơ đáng kể cho người bệnh (như giảm thị lực
trong viêm màng bồ đào nội sinh). Liều lượng cần được giảm xuống nếu thấy xuất
hiện các tác dụng ngoại ý.
Trong những trường hợp bác sỹ kê toa cho rằng
sự giảm hiệu quả tạm thời là chấp nhận được (như trong các chỉ định về da liễu),
Sandimmun Neoral cần được bắt đầu với liều 2,5-3 mg/kg/ngày và sau đó điều chỉnh
lại theo các thông số về hiệu quả và an toàn.
Cần theo dõi huyết áp và creatinine hàng tuần
trong tháng đầu sau khi chuyển thuốc và hàng tháng tiếp theo. Giảm liều nếu
huyết áp tăng đáng kể hoặc khi creatinine huyết thanh vượt quá giá trị đo được
trước đó 30% qua 2 lần xác định trở lên (xem thêm phần Theo dõi chức năng thận
trong mục Chú ý đặc biệt cho mỗi Chỉ định). Trường hợp creatinine vượt quá mức
thông thường 20-30%, khả năng tăng tạm thời không do thận phải được loại trừ
bằng cách làm xét nghiệm nhiều lần. Nếu xuất hiện các dấu hiệu nhiễm độc không
mong muốn hoặc ciclosporin không tạo được tác dụng mong muốn cần xác định nồng
độ thuốc toẫi thiểu trong máu.
Cách dùng :
Tổng liều dùng hàng ngày của Sandimmun Neoral
nên chia làm hai lần (sáng và tối).
Có thể nhận thấy mùi vị đặc biệt của thuốc khi
mở vỉ thuốc, điều này là bình thường và không cho thấy có sự thay đổi gì đối với
viên thuốc.
Viên nang :
Cần nuốt cả viên khi uống.
Không nên lấy viên thuốc ra khỏi vỉ cho tới
ngay trước khi sử dụng.
Trong trường hợp bệnh nhân (đặc biệt với người
cân nặng thấp) nếu không đạt được chính xác mức liều mong muốn khi dùng thuốc
hai liều như nhau vào buổi sáng và tối, có thể thực hiện theo các bước sau :
- Có thể dùng các liều khác nhau vào buổi sáng
và tối.
- Nếu chưa đạt được thành công, người bệnh có
thể chuyển sang dạng dung dịch uống.
Dung dịch uống :
Hướng dẫn cho lần sử dụng đầu tiên :
- Mở nắp bằng plastic.
- Tháo hết vòng niêm phong.
- Tháo và bỏ nút lọ màu đen.
- Đặt ống đơn vị cố định ở cổ chai.
- Đưa syringe vào.
- Hút lượng dịch thuốc cần thiết.
- Bơm ra và tạo thành các bọt bóng lớn bằng
cách ấn và rút pít-tông vài lần trước khi lấy syringe chứa lượng dịch thuốc cần
thiết ra khỏi lọ. Sự xuất hiện của một vài bọt nhỏ không quan trọng và không ảnh
hưởng gì tới liều dùng.
- Sau khi dùng, làm sạch syringe chỉ ở bên
ngoài với mảnh giấy vải khô mịn dùng một lần. Không tráng rửa bằng nước, cồn hay
bất cứ một loại dịch nào khác. Nút trắng và ống nên giữ lại trong lọ. Đậy kín lọ
bằng nắp có sẵn.
Sử dụng sau đó :
Thực hiện lại từ bước thứ 5 trở đi.
Syringe được tính theo milimét, mỗi vạch ứng
với 0,1 ml.
Dịch thuốc phải được pha thêm ngay trước khi
dùng, tốt nhất là với nước cam hay nước táo, hay thức uống khác khoậng chứa
alcohol cũng có thể được. Tuy nhiên không được dùng nước bưởi, do nguy cơ tương
tác tại chỗ liên quan đến hệ enzyme phụ thuộc P450. Dịch thuốc phải
được khuấy đều và uống ngay. Không được để syringe tiếp xúc với dịch pha loãng.
Để chắc chắn rằng sẽ dùng hết toàn bộ liều
thuốc, sau khi uống cần cho thêm một chút dịch pha vào cốc, lắc đều sau đó uống
hết. Cần luôn dùng cùng một loại dịch pha.
QUÁ LIỀU