Nyolol có tác dụng nhanh, thường bắt đầu 20
phút sau khi nhỏ. Tác dụng tối đa vào khoảng 1 đến 2 giờ và hiệu quả hạ nhãn áp
đáng kể kéo dài trong 24 giờ đối với Nyolol 0,25% hay 0,50%.
Nyolol có tác dụng hạ nhãn áp trong bệnh
glaucome hay các tình trạng tăng nhãn áp khác.
Đặc tính dược lý của hoạt chất chính timolol
maleate bao gồm :
- Ức chế thụ thể beta không chọn lọc.
- Không có hoạt tính giao cảm nội tại.
- Không có tác động vô cảm tại chỗ (ổn định
màng).
Không giống các thuốc co đồng tử, Nyolol không
ảnh hưởng đến kích thước đồng tử hay sự điều tiết. Không có co quắp điều tiết và
thị lực không thay đổi.
Giống như các thuốc điều trị glaucome khác, đáp
ứng với timolol sẽ giảm khi điều trị lâu dài ở một số bệnh nhân.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Tuyệt đối :
- Hen phế quản, co thắt phế quản, có tiền sử
hen phế quản hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng.
- Suy tim sung huyết không kiểm soát được, sốc
do tim.
- Tắc nghẽn dẫn truyền nhĩ thất độ cao (chưa
đặt máy tạo nhịp).
- Hiện tượng Raynaud.
- Nhịp tim chậm < 40-45 nhịp/phút.
- Dị ứng với một trong các thành phần của
thuốc.
Tương đối :
- Phối hợp với Amiodaron.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Giống như các thuốc nhỏ mắt khác, Nyolol có thể
hấp thu vào tuần hoàn chung và tác động giống như một thuốc ức chế beta đường
toàn thân.
Cần phải điều trị suy tim trước khi dùng
Nyolol.
Đối với bệnh nhân có bệnh tim nặng trước đó hay
bệnh nhân lớn tuổi, cần theo dõi nhịp tim và dấu hiệu suy tim.
Sau khi nhỏ timolol maleate, đã xảy ra trường
hợp phản ứng tim và hô hấp nặng như tử vong do co thắt phế quản ở bệnh nhân hen
phế quản và một số trường hợp hiếm tử vong do suy tim.
Bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế beta đường
uống khi dùng Nyolol cần theo dõi tác dụng cộng thêm đối với nhãn áp cũng như
đối với các tác dụng toàn thân của thuốc ức chế beta.
Bệnh nhân tiểu đường
Cần thận trọng khi dùng thuốc ức chế beta ở
bệnh nhân hạ đường huyết vô căn, hoặc bệnh nhân tiểu đường (đặc biệt tiểu đường
không ổn định) đang dùng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết uống. Thuốc ức chế
beta có thể che lấp triệu chứng và dấu hiệu của cơn hạ đường huyết cấp tính.
Mặc dù Nyolol được dung nạp tốt ở bệnh nhân
glaucome mang kính tiếp xúc cũng như ở bệnh nhân đã lấy thủy tinh thể, không nên
mang kính tiếp xúc do những nguy cơ sau đây :
- Giảm tiết nước mắt do thuốc ức chế beta.
- Hấp thu vào kính tiếp xúc một số thành phần
của thuốc (benzalkonium chlorure).
- Viêm giác mạc trong khi mang kính tiếp xúc do
benzalkonium chlorure.
Đối với trẻ em :
Chưa có thử nghiệm trên trẻ em.
Không nên dùng thuốc cho trẻ thiếu tháng và trẻ
sơ sinh.
LÚC CÓ THAI
Dung dịch nhỏ mắt Nyolol nói chung dung nạp rất
tốt. Thử nghiệm lâm sàng với timolol maleate cho thấy chủ yếu có các phản ứng
phụ sau :
Ở mắt : có thể gây kích ứng mắt, viêm kết mạc,
viêm mí mắt, viêm giác mạc, giảm cảm giác giác mạc, thay đổi khúc xạ (do ngưng
điều trị với thuốc co đồng tử ở một số trường hợp), song thị, và sụp mi.
Ở hệ tuần hoàn : nhịp tim chậm, loạn nhịp tim,
hạ huyết áp, ngất, bloc tim, tai biến mạch máu não, thiếu máu não, suy tim sung
huyết, trống ngực, ngừng tim.
Ở hệ hô hấp : co thắt phế quản (xảy ra chủ yếu
ở người có bệnh co thắt phế quản trước đó), suy hô hấp, khó thở.
Toàn thân : nhức đầu, suy nhược, buồn nôn,
chóng mặt, trầm cảm, mệt mỏi.
Da : phản ứng dị ứng, bao gồm nổi mảng đỏ hay
mề đay khu trú hay toàn thân đã được ghi nhận.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Khi bắt đầu, nên dùng Nyolol 0,25% nhỏ mắt 1
giọt x 2 lần mỗi ngày.
Nếu chưa đạt được hiệu quả lâm sàng mong muốn,
thì chuyển sang dùng Nyolol 0,50% nhỏ mắt 1 giọt x 2 lần mỗi ngày.
Nếu cần thiết, có thể điều trị đồng thời với :
Thuốc nhỏ mắt điều trị glaucome loại giống giao
cảm (sympathomimetic) hay loại giống phó giao cảm (parasympathomimetic),
Hay thuốc ức chế men carbonic anhydrase dùng
đường toàn thân, để đạt được hiệu quả tốt hơn.
Ở một số bệnh nhân, vì hiệu quả hạ nhãn áp của
Nyolol chỉ ổn định sau vài tuần điều trị, nên cần đánh giá nhãn áp vào khoảng
tuần thứ 4.
Nếu nhãn áp được duy trì ở mức chấp nhận được,
có thể giảm liều xuống và nhỏ mắt mỗi ngày một lần.
Thay thế một phương pháp điều trị trước đó
:
- Khi Nyolol được dùng để thay thế một thuốc
nhỏ mắt loại ức chế beta khác, ngưng thuốc cũ vào cuối ngày điều trị. Ngày tiếp
theo dùng Nyolol 0,25% nhỏ mắt 1 giọt x 2 lần/ngày. Nếu cần dùng liều cao hơn
thì thay bằng Nyolol 0,50% nhỏ mắt 1 giọt x 2 lần/ngày.
- Khi Nyolol được dùng để thay thế một thuốc
nhỏ mắt điều trị glaucome không phải loại ức chế beta, tiếp tục dùng thuốc cũ
thêm một ngày trong khi dùng thêm Nyolol 0,25% 1 giọt x 2 lần/ngày. Vào ngày
tiếp theo ngưng thuốc cũ và chỉ dùng Nyolol 0,25%. Nếu cần dùng liều cao hơn thì
thay bằng Nyolol 0,50% nhỏ mắt 1 giọt x 2 lần/ngày.
Khi Nyolol được dùng để thay thế nhiều thuốc
điều trị glaucome đang dùng đồng thời, cần cân nhắc từng trường hợp cụ thể.
Thầy thuốc sẽ quyết định ngưng một hay tất cả
các loại thuốc đã dùng điều trị glaucome trước đó.
Khi bệnh nhân đang dùng thuốc co đồng tử chuyển
sang dùng Nyolol, cần khám lại khúc xạ cho bệnh nhân khi thuốc co đồng tử hết
tác dụng.
Bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn
điều trị và nhãn áp cần được kiểm soát đặc biệt vào giai đoạn đầu của điều trị.
Cách dùng :
Mới dùng lọ thuốc lần đầu : vặn mạnh nắp theo
chiều kim đồng hồ để làm thủng một lổ nhỏ ở đầu lọ thuốc.
Sau mỗi lần nhỏ mắt : vặn chặt nắp và để lọ
thuốc trở lại vào hộp giấy để tránh ánh sáng.
BẢO QUẢN