Trong những nghiên cứu dược lý trên súc vật,
oxcarbazepine và chất chuyển hóa dẫn xuất monohydroxy (MHD) biểu hiện tác dụng
chống co giật mạnh và hữu hiệu, cho thấy rằng thuốc trị liệu hữu hiệu chủ yếu
trên động kinh dạng co cứng cơn lớn hoặc cơn nhỏ.
Mặc dù cơ chế chính xác của tác động của hầu
hết các thuốc chống động kinh chưa được hiểu biết một cách chi tiết, người ta
cho rằng các thuốc trong nhóm này tác động bằng cách thay đổi hoạt tính của chất
trung gian cơ bản của kích thích thần kinh, cụ thể là kênh ion của điện thế và
của dẫn truyền thần kinh trong não. Theo những khám phá gần đây, oxcarbazepine
và MHD có thể có tác động chống co giật bằng cách phong bế kênh natri phụ thuộc
điện thế trong não. Ở nồng độ điều trị, cả hai hợp chất làm giới hạn dòng chảy
lặp đi lặp lại với tần suất cao kéo dài của hoạt động phụ thuộc natri trên tế
bào thần kinh chuột trong mẫu cấy tế bào, tác động này có thể góp phần vào ức
chế sự lan truyền hoạt động động kinh từ ổ gây động kinh. Thêm vào đó, bằng
chứng từ một nghiên cứu in vitro ở những lát cắt của hồi hải mã chuột cho thấy
rằng hoạt động chống động kinh của đồng phân racemic MHD, và cả hai cấu hình của
nó cũng được cân bằng bởi kênh kali.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu : Oxcarbazepine được hấp thu
nhanh chóng và hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Thuốc được khử nhanh chóng và hầu
như hoàn toàn thành chất chuyển hóa có hoạt tính dược lý 10,
11-dihydro-10-hydroxy-carbamazepine (dẫn xuất monohydroxy, MHD), chất này đạt
đến các nồng độ cao hơn vài lần trong huyết tương so với thuốc dưới dạng không
đổi. Khả dụng toàn thân của MHD tăng nhẹ nhưng chỉ có ý nghĩa khi oxcarbazepine
được dùng chung với thức ăn.
Phân phối : chỉ một phần rất nhỏ (40%)
chất chuyển hóa có hoạt tính MHD gắn với protein huyết thanh, chủ yếu với
albumin. Thể tích phân phối là 0,7-0,8 l/kg (MHD).
Do bị khử nhanh chóng, nồng độ trong huyết
thanh của oxcarbazepine có thể được bỏ qua và chủ yếu xét đến chất chuyển hóa
MHD. Dùng các liều duy nhất 150 đến 600 mg oxcarbazepine, diện tích dưới đường
cong nồng độ trung bình trong huyết tương của MHD có tương quan tuyến tính với
liều lượng ; nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương sau các liều 300 và 600
mg ở dạng viên nén tương ứng là 13,9 và 23,6
mmol/l. Nồng
độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 4 giờ.
Chuyển hóa : oxcarbazepine được chuyển
hóa rộng rãi ở người, dưới 1% liều dùng được đào thải trong nước tiểu dưới dạng
không đổi. Thuốc bị khử nhanh chóng thành MHD có hoạt tính dược lý như là chất
chuyển hóa chủ yếu. Các chất chuyển hóa phụ là các chất liên hợp glucuronic và
sulfate trực tiếp của oxcarbazepine và chất chuyển hóa 10, 11-dihydro-10,
11-dihydroxy.
Đào thải : thời gian bán hủy đào thải
của MHD trong huyết tương người trung bình là 9 giờ, sau khi dùng các liều duy
nhất oxcarbazepine ; thanh thải toàn phần trong huyết tương là 3,6 l/giờ. Khi
uống nhiều liều liên tiếp oxcarbazepine, dược động của thuốc dạng nguyên vẹn và
chất chuyển hóa có hoạt tính của nó không thay đổi, cho thấy không có tích tụ
thuốc. Oxcarbazepine được đào thải hoàn toàn ; hơn 95% liều dùng, chủ yếu dưới
dạng các chất chuyển hóa, xuất hiện trong nước tiểu trong vòng 10 ngày. Các dạng
tự do và liên hợp của MHD chiếm 60% lượng được đào thải qua thận và phần chất
chuyển hóa liên hợp phụ chiếm khoảng 5-15% cho mỗi chất.
Đặc điểm của bệnh nhân : trên bệnh nhân
mắc bệnh động kinh, liều hàng ngày 600 đến 1800 mg oxcarbazepine dạng viên cho
những nồng độ ở trạng thái ổn định của chất chuyển hóa MHD trong khoảng
8,3-107,3 mmol/l.
Các giá trị tương tự cũng đạt được với liều hàng ngày 1200 đến 2100 mg
oxcarbazepine dạng hỗn dịch. Một vài bệnh nhân có thể cần liều cao hơn. Nồng độ
ở trạng thái bền vững cao nhất được tìm thấy là 177
mmol/l.
Ở bệnh nhân dùng duy nhất một loại thuốc là oxcarbazepine, người ta tìm được mối
liên hệ tuyến tính giữa liều hàng ngày từ 300 đến 2700 mg và nồng độ trong huyết
tương của MHD. Không có mối liên hệ rõ ràng tồn tại giữa nồng độ trong huyết
tương và hiệu quả điều trị.
Nồng độ ở trạng thái bền vững của MHD trên trẻ
em mắc bệnh động kinh cũng tương tự như ở người lớn.
Ở người già, nồng độ tối đa trong huyết tương
và diện tích dưới đường cong của MHD cao hơn đáng kể so với người trẻ tuổi, điều
này có thể là do có sự suy giảm vừa phải chức năng thận. Không cần các khuyến
cáo đặc biệt về liều lượng trong những trường hợp này vì liều điều trị được điều
chỉnh tùy theo từng người. Cho đến nay, dược động của oxcarbazepine và MHD chưa
được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan. Tình trạng suy thận trung bình cũng ảnh
hưởng một ít đến MHD và oxcarbazepine trong huyết tương. Tuy nhiên, do nồng độ
MHD liên hợp trong huyết tương gia tăng có ý nghĩa, điều này có thể làm tăng cao
hơn nồng độ của MHD tự do, ở bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin <= 30
ml/phút), nên giảm khoảng một nửa liều oxcarbazepine.
CHỈ ĐỊNH
Chỉ nên dùng Trileptal khi có sự theo dõi y
khoa.
Trong quá trình điều trị với Trileptal, có thể
bị giảm natri huyết. Do đó, nên kiểm tra natri huyết trước khi bắt đầu điều trị
và sau đó trong những khoảng cách thời gian đều đặn. Cần theo dõi cẩn thận bệnh
nhân có nồng độ natri trong huyết thanh thấp và bệnh nhân được điều trị với
thuốc lợi tiểu.
Nếu trong quá trình điều trị mà lượng bạch cầu
hay tiểu cầu thấp hay giảm xuống, nên theo dõi bệnh nhân và công thức máu cẩn
thận. Nên ngưng Trileptal nếu có dấu hiệu chèn ép tủy đáng kể.
Nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý
cho phản ứng trầm trọng trên da (như hội chứng Stevens-Johnson), nên ngưng ngay
Trileptal. Nên cho bệnh nhân biết các dấu hiệu ngộ độc sớm của những phản ứng
nêu trên như sốt, nổi ban, sang thương trong miệng, bầm giập, ban xuất huyết.
Khuyên họ nên đi khám bác sĩ ngay nếu xuất hiện những phản ứng như trên.
Nên theo dõi cẩn thận bệnh nhân suy thận, suy
gan hay suy tim, và người già vì nhóm người này có nguy cơ bị tác dụng ngoại ý
cao hơn (xem phần Dược lực).
Oxcarbazepine ít có tác dụng cảm ứng enzyme hơn
carbamazepine ; nếu ở bệnh nhân được trị liệu bằng nhiều loại thuốc, trong đó
carbamazépine hay những thuốc chống động kinh khác có tác động cảm ứng enzyme
được ngưng và thay thế bởi Trileptal, nên theo dõi các nồng độ trong huyết thanh
của thuốc chống động kinh dùng đồng thời để tránh khả năng gây độc tính ; có thể
cần thiết phải giảm liều của thuốc dùng phối hợp (xem phần Tương tác thuốc).
Như những thuốc chống động kinh khác, nên tránh
ngưng đột ngột Trileptal. Nên giảm dần dần liều để giảm khả năng thúc đẩy cơn
động kinh, nghĩa là sự tăng cơn động kinh hay tình trạng động kinh liên tục khi
ngưng thuốc.
Nếu bắt buộc phải ngưng Trileptal một cách đột
ngột, như trong trường hợp bị phản ứng phụ trầm trọng, sự chuyển đổi sang một
thuốc chống động kinh khác nên được thực hiện dưới ảnh hưởng của một thuốc thích
hợp (như diazepam tiêm tĩnh mạch, đặt trực tràng, phenytoin tiêm tĩnh mạch) và
phải được theo dõi chặt chẽ.
Khi bệnh nhân có dị ứng với carbamazepine được
chuyển sang dùng oxcarbazepine, nên cẩn thận vì đã có báo cáo về một vài trường
hợp xảy ra dị ứng chéo. Điều này có thể do cấu trúc của hai hợp chất tương tự
nhau.
Bệnh nhân được điều trị với Trileptal nên tránh
uống rượu do có thể làm tăng tác dụng an thần của thuốc.
Tác động trên khả năng điều khiển xe và máy móc
: khả năng phản xạ của bệnh nhân có thể bị giảm do chứng chóng mặt và buồn ngủ
gây ra do Trileptal. Bệnh nhân nên đặc biệt cẩn thận khi lái xe hay vận hành máy
móc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Ở chuột, thử nghiệm sinh sản bao gồm khả năng
sinh sản của chuột đực và chuột cái, quá trình mang thai và cho con bú không bị
ảnh hưởng bất lợi do oxcarbazepine cho đến liều 150 mg/kg. Không có bằng chứng
về khả năng gây quái thai ở chuột nhắt và thỏ. Tuy nhiên, một trong hai nghiên
cứu ở chuột lớn cho thấy oxcarbazepine gây quái thai khi dùng tới liều từ 300
đến 1000 mg/kg mỗi ngày, và kèm theo là gây độc tính trên mẹ lẫn phôi hoặc bào
thai. Chất chuyển hóa có hoạt tính trên người là MHD, được đem thử nghiệm trên
chuột và thỏ, đã hoàn toàn không cho thấy có khả năng gây quái thai. Sự phát
triển trước và sau khi sinh của thế hệ sau ở loài gậm nhấm bị trì trệ ở một vài
mức độ nhất định với các liều gây độc cho thú mẹ. Các liều gây độc lên mẹ và
phôi của oxcarbazepine hay MHD ở chuột được liên kết với những dấu hiệu suy yếu
của sự làm tổ của trứng.
Phụ nữ mang thai mắc bệnh động kinh nên được
điều trị đặc biệt cẩn thận. Nếu người phụ nữ đang được điều trị bằng Trileptal
lại có thai hay nếu vấn đề bắt đầu điều trị với Trileptal đặt ra lúc đang có
thai, phải cân nhắc cẩn thận giữa lợi ích của thuốc với những rủi ro có thể xảy
ra, đặc biệt trong ba tháng đầu của thai kỳ.
Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính
của nó đi qua nhau thai. Các nồng độ MHD trong huyết tương người mẹ và đứa con
sơ sinh thì giống nhau.
Nếu thuốc tuyệt đối cần thiết và không còn
phương cách thay thế nào an toàn hơn, nên dùng liều với Trileptal thấp nhất có
thể được.
Sự thiếu hụt acid folic được biết là có xảy ra
trong thời kỳ có thai. Thuốc chống động kinh đã được báo cáo làm nặng thêm sự
thiếu hụt acid folic. Sự thiếu hụt này có thể góp phần thêm việc gia tăng tần
suất khiếm khuyết của đứa con có mẹ được điều trị bằng thuốc chống động kinh. Do
đó, nên cung cấp acid folic cho người mẹ trước và trong khi mang thai. Sự thiếu
hụt vitamin B12 có thể bỏ qua hay được điều trị.
Theo thường lệ, nên cẩn thận cân nhắc giữa lợi
ích và nguy cơ của việc uống thuốc trong lúc cho con bú.
Oxcarbazepine và chất chuyển hóa có hoạt tính
của nó được bài tiết qua sữa mẹ. tỷ lệ nồng độ trong sữa trên nồng độ trong
huyết tương là 0,5 được tìm thấy cho cả hai loại hợp chất.
Không có kinh nghiệm để dựa theo đó mà xét đoán
tính an toàn của Trileptal trong lúc cho con bú. Không thể loại trừ khả năng xảy
ra tác dụng ngoại ý trên đứa trẻ. Do đó, nên cai sữa cho trẻ hay theo dõi đề
phòng kỹ càng các tác động ngoại ý như ngủ quá nhiều.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Trên cơ sở lý thuyết (sự liên hệ về cấu trúc
với các thuốc chống trầm cảm tricyclique), việc sử dụng Trileptal không được
khuyến cáo kết hợp với các chất ức chế monoamine-oxidase (IMAO) ; trước khi sử
dụng Trileptal, nên ngưng dùng IMAO ít nhất 2 tuần hay lâu hơn nếu tình trạng
lâm sàng cho phép.
Do chất chuyển hóa có hoạt tính là dẫn xuất
10-monohydroxy (MHD) gắn với protéine huyết tương yếu, nên rất ít có nguy cơ
tương tác thuốc do sự thay thế khỏi vị trí gắn kết của oxcarbazepine.
Con đường chuyển hóa chính của oxcarbazepine và
chất chuyển hóa có hoạt tính (MHD) không lệ thuộc vào hệ thống men cytochrome
P-450. Do đó, sự ức chế hay thúc đẩy của hệ thống men này hầu như không có tác
động lên dược động của oxcarbazepine và chất chuyển hóa có tác dụng của nó.
Oxcarbazepine không gây cảm ứng các men kiểm soát các hoạt động của chúng trên
cơ thể, và không có ảnh hưởng trên tốc độ đào thải của chất chuyển hóa có hoạt
tính MHD của nó. Hơn nữa, trong những nghiên cứu lâm sàng và dược động học với
oxcarbazepine và thuốc hạ sốt, và oxcarbazepine và warfarine, cho thấy được rằng
thuốc có ít gây cảm ứng men so với carbamazepine.
Tuy nhiên, nồng độ trong huyết tương của
estrogen và progestogen có thể giảm ở phụ nữ uống thuốc ngừa thai đồng thời với
Trileptal, điều này có thể dẫn đến xuất huyết ồ ạt và có khả năng mất hiệu lực
của thuốc ngừa thai. Nên cân nhắc dùng phương pháp tránh thai khác.
Hơn nữa, tính khả dụng toàn thân của felodipine
giảm có ý nghĩa trong một nghiên cứu ở người tình nguyện khỏe mạnh.
Các nghiên cứu khác được thực hiện trên một số
giới hạn người tình nguyện khỏe mạnh hay bệnh nhân động kinh dùng đồng thời
Trileptal và những thuốc ức chế enzyme sau : cimétidine, erythromycine,
dextropropoxyphene, viloxazine, verapamil. Không ghi nhận có tương tác thuốc có
ảnh hưởng trên lâm sàng.
Các nồng độ ở trạng thái ổn định của phenytoin
và acid valproic gia tăng khi thay thế carbamazepine bằng oxcarbazepine (xem
phần Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng ngoại ý của Trileptal thường nhẹ
và thoáng qua và chủ yếu xảy ra lúc bắt đầu điều trị. Thường những tác dụng này
giảm khi tiếp tục điều trị. Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất được báo cáo là
những phản ứng trên hệ thần kinh trung ương như mệt mỏi, chóng mặt, buồn ngủ và
nhức đầu.
- Thần kinh trung ương (và ngoại biên) : thường
xuyên : mệt mỏi ; đôi khi : chóng mặt/choáng váng, buồn ngủ, nhức đầu, mất điều
hòa, run rẩy, rối loại trí nhớ/tập trung, rối loạn giấc ngủ, rối loạn thị giác,
dị cảm ; hiếm : dễ xúc cảm tâm thần, ù tai, trầm cảm, lo lắng.
- Tiêu hóa : đôi khi : rối loạn tiêu hóa, như
buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy.
- Phản ứng quá mẫn : đôi khi : nổi ban da ;
trường hợp riêng biệt : phản ứng dị ứng trầm trọng bao gồm hội chứng
Stevens-Johnson.
- Phản ứng huyết học : đôi khi : giảm số lượng
bạch cầu (thất thường và chỉ thoáng qua) ; hiếm : giảm tiểu cầu, giảm toàn thể
các dòng tế bào máu.
- Gan : hiếm ; tăng men gan như transaminase,
phosphatase kiềm.
- Tim mạch : hiếm : hạ huyết áp.
- Các phản ứng ngoại ý khác : đôi khi : tăng
cân, giảm ham muốn tình dục, kinh nguyệt bất thường, phù, hạ natri huyết và giảm
tính thẩm thấu huyết tương do tác dụng giống ADH dẫn đến trong một vài trường
hợp hiếm, chứng nhiễm độc ứ nước đi kèm theo là chứng ngủ lịm, nôn mửa, nhức
đầu, lú lẫn thần kinh, bất thường thần kinh ; hiếm : giảm cân.
- Riêng đối với trẻ em (dùng đa liệu pháp) :
tính khí hung hăng, sốt (không rõ nguyên nhân).
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Trileptal thích hợp khi được dùng để điều trị
duy nhất hay phối hợp với những thuốc chống động kinh khác. Trong cả hai cách
dùng này nên bắt đầu bằng liều thấp và nâng liều từ từ, cần điều chỉnh liều để
thích hợp với nhu cầu của mỗi người bệnh. Bệnh nhân suy thận trầm trọng nên giảm
bớt một nửa liều (xem phần Dược động học).
Người lớn :
Dùng một loại thuốc duy nhất : liều khởi
đầu nên là 300 mg mỗi ngày. Hiệu quả trị liệu tốt được ghi nhận ở liều 600-1200
mg/ngày với hầu hết các bệnh nhân có đáp ứng thuận lợi ở liều 900 mg/ngày.
Điều trị với nhiều thuốc : (ở bệnh nhân động
kinh nặng và những trường hợp lờn thuốc) : liều bắt đầu nên là 300 mg mỗi
ngày, sau đó tăng dần cho đến khi đạt được đáp ứng tối ưu. Liều duy trì trong
khoảng 900 và 3000 mg/ngày.
Trong cả hai trường hợp dùng Trileptal riêng rẽ
hay kết hợp, nên bắt đầu điều trị với liều 10 mg/kg thể trọng mỗi ngày và tăng
từ từ. Liều khuyến cáo để duy trì vào khoảng 30 mg/kg/ngày. Nếu vẫn chưa kiểm
soát được các cơn động kinh, có thể tăng lên theo từng trường hợp bằng cách thêm
5-10 mg/kg thể trọng mỗi ngày.
Khi không thể đạt được một liều chính xác
(mg/kg) với các dạng viên nén có sẵn cho trẻ em và nhất thiết phải điều trị với
Trileptal, nên quyết định dùng liều ước lượng theo từng trường hợp.
Cách dùng :
Ở một vài bệnh nhân, có thể áp dụng phác đồ
dùng thuốc mỗi ngày hai lần ; tuy nhiên, thông thường, nên dùng thuốc ba lần mỗi
ngày.
Thuốc viên nén nên uống với nước trong bữa ăn
hoặc sau bữa ăn.
QUÁ LIỀU
Trong các khảo sát chuyên biệt trên súc vật,
oxcarbazepine và MHD dạng uống có LD50 > 1000 mg/kg. Ở người, độc
tính với oxcarbazepine hầu như hiếm thấy.
Các biểu hiện lâm sàng có thể giống như khi bị
quá liều carbamazepine do hai chất này có cấu trúc phân tử tương tự nhau.
Điều trị : không có thuốc giải độc
chuyên biệt cho Trileptal. Bệnh nhân có thể được điều trị triệu chứng, loại
thuốc bằng cách rửa dạ dày và/hoặc hấp phụ thuốc bằng than hoạt tính. Nên lưu ý
đến các dấu hiệu sinh tồn đặc biệt là sự dẫn truyền ở tim, chất điện giải và sự
hô hấp. Đưa bệnh nhân nhập viện và sử dụng các biện pháp hỗ trợ y khoa trường
hợp bị ngộ độc nặng.