Flavoxate là thuốc chống co thắt có tác dụng
đối kháng trực tiếp sự co thắt cơ trơn của bàng quang và đường tiết niệu-sinh
dục. Thuốc được tổng hợp trong các phòng thí nghiệm của Recordati, Industria
Chimica e Farmaceutica, S.p.A., Milano-Italy.
Về mặt hóa học flavoxate có công thức là 4
H-1-benzopyran-2-phenyl-3 methyl-4-oxo-8-carbo- xylic acid 2-(1-piperidinyl)
ethyl ester hydrochloride.
Flavoxate là một thuốc dãn cơ trơn giống
papaverine. Tuy nhiên, thuốc có tính chất chống co thắt mạnh hơn và ít độc tính
hơn các alkaloid của thuốc phiện. Cơ chế tác động của flavoxate là sự kết hợp
của tác động hướng cơ, tác động gây tê tại chỗ và kháng calcium. Flavoxate làm
dãn trực tiếp cơ trơn, có lẽ là do ức chế men phosphodiesterase và do tác động
kháng calcium.
Dược động học :
Sau khi uống, flavoxate đạt nồng độ đỉnh trong
máu trong vòng 20 phút. Thuốc phân bố thấp trong mô não nhưng cao trong gan,
thận và bàng quang. Chất chuyển hóa chính của nó là
3-methyl-flavone-8-carboxylic acid (MFCA). 12 giờ sau khi uống khoảng 55% thuốc
được bài tiết dưới dạng MFCA và/hoặc chất chuyển hóa ở dạng kết hợp trong nước
tiểu. Flavoxate không tích tụ trong cơ thể.
Hiệu quả lâm sàng :
Đo bằng bàng quang kế ở các bệnh nhân bình
thường cũng như có bệnh lý bàng quang do thần kinh thấy rằng các hiệu quả điều
trị - tức là tăng dung tích làm giảm áp lực bàng quang - xảy ra trong vòng 2
giờ.
So sánh các đáp ứng lâm sàng sau khi dùng
flavoxate (200 mg) và propantheline (30 mg), các tác giả đã thấy rằng thuốc
kháng hệ cholin làm khô vùng khẩu hầu trong khoảng 2/3 số bệnh nhân trong khi
không có tác giả nào báo cáo có những triệu chứng này hoặc các than phiền khác
khi dùng flavoxate. Hiện tượng bí tiểu đáng kể thường gặp ở những bệnh nhân được
điều trị bằng các thuốc kháng hệ cholin lại không xảy ra với những bệnh nhân
được điều trị bằng flavoxate.
Các nghiên cứu sau đó đã chứng minh rằng
flavoxate có tác dụng kháng hệ muscarin rất yếu, khoảng 2.000 lần ít hơn so với
oxybutinin.
Flavoxate làm giảm áp lực trong bàng quang
nhiều hơn so với emepronium bromide. Cả hai thuốc đều làm giảm sự khởi đầu cảm
giác mắc tiểu và làm tăng tổng dung tích bàng quang, tiểu lắt nhắt vào ban ngày
nhưng flavoxate có hiệu quả hơn. Flavoxate cải thiện hơn về tình trạng tiểu ngắt
quãng, tiểu gấp thường đi kèm với sự mất tính ổn định của cơ thắt bàng quang
hoặc đi kèm với sự rối loạn chức năng cơ vòng so với emepronium . Bệnh nhân điều
trị bằng flavoxate cũng ít bị tác dụng phụ hơn so với điều trị bằng emepronium
bromide.
Thực nghiệm so sánh flavoxate dùng liều 2 viên
100 mg bốn lần mỗi ngày với phenazopyridine dùng liều 2 viên 100 mg, ba lần mỗi
ngày cho thấy đáp ứng tốt hơn xảy ra đối với bệnh nhân bị viêm tuyến tiền liệt
(tỷ lệ 66% bệnh nhân dùng flavoxate so với 31% dùng phenazopyridine), viêm bàng
quang cấp, viêm niệu đạo và/hoặc viêm tam giác bàng quang (tỷ lệ 80% so với
56%).
CHỈ ĐỊNH
- Dùng giảm triệu chứng trong : khó tiểu, tiểu
gấp, tiểu đêm, tiểu lắt nhắt và tiểu ngắt quãng trong các bệnh lý của bàng quang
và tiền liệt tuyến như viêm bàng quang, đau bàng quang, viêm tiền liệt tuyến,
viêm niệu đạo, viêm niệu đạo-bàng quang, viêm niệu đạo-tam giác bàng quang ;
- Hỗ trợ trong điều trị chống co thắt trong các
bệnh lý như : sỏi thận và sỏi niệu quản, các rối loạn co thắt đường niệu do đặt
ống thông tiểu và soi bàng quang và trong di chứng phẫu thuật đường tiểu dưới ;
- Giảm các tình trạng co thắt ở đường sinh dục
phụ nữ như : đau vùng chậu, đau bụng kinh, tăng trương lực và rối loạn vận động
tử cung.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Ở bệnh nhân bị nhiễm trùng đường tiết
niệu-sinh dục cùng lúc, nên dùng flavoxate hydrochloride phối hợp với trị liệu
bằng kháng sinh thích hợp.
- Nên dùng thuốc cẩn thận ở những bệnh nhân
tăng nhãn áp, đặc biệt là dạng tăng nhãn áp góc hẹp và ở những bệnh nhân bị các
bệnh lý tắc nghẽn nghiêm trọng đường tiểu dưới do chèn ép.
Tác động lên khả năng lái xe hay vận hành
máy móc : Những bệnh nhân điều khiển xe hoặc máy móc, hoặc tham gia vào các
công việc cần sự chú ý phải được báo trước về các tác dụng phụ có thể xảy ra như
: ngầy ngật, mờ mắt và chóng mặt.
Sử dụng cho trẻ em : Không nên sử dụng
Genurin cho trẻ nhũ nhi và trẻ em dưới 12 tuổi vì chưa xác định được hiệu quả
điều trị và tính an toàn của thuốc đối với bệnh nhân ở các nhóm tuổi này.
LÚC CÓ THAI
Tác dụng phụ hiếm gặp, bao gồm : buồn nôn và
nôn ói (thường không xảy ra khi uống thuốc lúc no), khô miệng, chóng mặt, nhức
đầu, ngầy ngật (thường sẽ hết khi giảm liều hoặc cho uống thuốc thưa ra), cảm
xúc không ổn định, rối loạn điều tiết mắt, tăng nhãn áp, nổi mề đay hoặc các
bệnh ngoài da khác, lú lẫn đặc biệt ở người lớn tuổi, rối loạn tiểu tiện, nhịp
tim nhanh, sốt, tăng bạch cầu đa nhân ái toan và có thể gây táo bón ở liều cao.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Mỗi lần uống 1 viên Genurin 200 mg, 3-4 lần mỗi
ngày.
Flavoxate được hấp thu nhanh chóng. Đáp ứng lâm
sàng sẽ thay đổi tùy thuộc vào bản chất và mức độ nghiêm trọng của các triệu
chứng được chẩn đoán và tùy thuộc vào tổng trạng của bệnh nhân. Những hiệu quả
điều trị trên hệ cơ bàng quang sẽ xuất hiện trong vòng từ 2 đến 3 giờ.
Đối với những bệnh nhân bị nhiễm trùng, việc
điều trị thường được kéo dài song song với những thuốc chống nhiễm trùng (nghĩa
là kéo dài 1 tuần hay hơn).
Những bệnh nhân có triệu chứng mãn tính ở bàng
quang, cần phải kéo dài việc duy trì để đạt được kết quả tối ưu. Nếu triệu chứng
được cải thiện, có thể giảm liều.
QUÁ LIỀU