- Suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải (kể
cả nhiễm HIV). Trường hợp đặc biệt trẻ con có mẹ HIV dương tính : kháng thể của
người mẹ đi qua nhau thai, nên không thể chẩn đoán được đứa bé có bị nhiễm HIV
hay không. Phải chờ xác định bằng phương pháp Western Blot đến khi nào có phản
ứng âm tính mới có thể cho rằng đứa bé không bị nhiễm.
Nếu âm tính : có thể chích ngừa theo lịch
trình.
Nếu dương tính : phải hỏi ý kiến của chuyên
khoa nhi.
- Dị ứng với protéine của trứng.
- Mới tiêm ngừa immunoglobuline trong thời gian
gần.
- Phụ nữ mang thai : tuy nhiên, nếu đã chích
ngừa trong thời gian có thai chưa biết trước, không có nghĩa là phải phá thai.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Để tránh làm mất tác dụng của thuốc, không dùng
trong vòng 6 tuần (nếu có thể được thì trong vòng 3 tháng) sau khi tiêm
immunoglobuline hay truyền máu.
Cũng vì vậy, không dùng immunoglobuline trong
vòng 2 tuần sau khi chích ngừa.
Phản ứng thử lao tố có thể âm tính tạm thời sau
khi tiêm.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Có thể có phản ứng nhẹ từ ngày thứ 5 : sốt (có
thể tránh bằng thuốc hạ nhiệt), triệu chứng mũi hay hô hấp ngắn hạn, ngứa khớp,
đỏ. Rất ít khi bị sốt làm kinh.
Rất hiếm khi thấy nổi hạch, hay viêm mang tai.
Rất ít trường hợp ghi nhận bị bệnh thần kinh
như viêm màng não hay viêm màng não thể não, điếc một bên. Viêm màng não xuất
hiện trong vòng 30 ngày, không có di chứng, thỉnh thoảng có phát hiện virus bệnh
quai bị trong dịch não tủy.
Sự xuất hiện bệnh viêm màng não vô trùng rất
hiếm gặp. Sự hồi phục thường hoàn toàn. Rất ít trường hợp bị viêm tinh hoàn.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG