Hấp thu :
Khả dụng sinh học tuyệt đối của mefloquine
không được xác định vì thuốc không có dạng tiêm tĩnh mạch. Sinh khả dụng của
dạng viên so với dạng dung dịch uống là trên 85%. Sự có mặt của thức ăn làm tăng
rõ rệt chỉ số này và kéo dài thời gian hấp thu, dẫn tới tăng khoảng 40% sinh khả
dụng. Đỉnh nồng độ trong huyết tương đạt được từ 6-24 giờ (trung bình khoảng 17
giờ) sau khi dùng một liều đơn Lariam. Nồng độ tối đa trong huyết tương tính
theo mg/l
là tương đương với liều tính theo miligram (ví dụ : một liều đơn 1000 mg cho
nồng độ tối đa trong huyết tương vào khoảng 1000
mg/l).
Với liều 250 mg một lần trong tuần, nồng độ tối đa trong huyết tương ở trạng
thái ổn định là 1000-2000 mg/l
đạt được sau 7-10 tuần.
Phân bố :
Trên người trưởng thành khỏe mạnh, thể tích
phân bố rõ ràng là vào khoảng 20 l/kg cho thấy sự phân bố rất tốt trong tổ chức.
Mefloquine có thể tích lũy trong hồng cầu có chứa ký sinh trùng với một tỷ lệ từ
hồng cầutới huyết tương là khoảng 2 lần. Tỷ lệ gắn với protein là khoảng 98%. Để
đạt được hiệu quả trong điều trị dự phòng là 95% thì cần nồng độ trong máu của
mefloquine là 620 ng/ml.
Mefloquine qua được nhau thai. Việc bài tiết
vào sữa mẹ hình như rất ít (xem phần Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).
Chuyển hóa :
Hai chất chuyển hóa đã được nhận dạng trên
người. Chất chuyển hóa chính là 2,8-bis-trifluoromethyl-4-quinoline carboxylic
acid không có hoạt lực với P. falciparum. Trong một nghiên cứu trên những
người tình nguyện khỏe mạnh, chất chuyển hóa acid carboxylic xuất hiện trong
huyết thanh 2 đến 4 giờ sau khi uống một liều đơn. Nồng độ tối đa trong huyết
tương, cao hơn khoảng 50% so với nồng độ mefloquine, đạt được sau 2 tuần. Sau
đó, mức trong huyết tương của chất chuyển hóa chính và mefloquine giảm dần tới
một mức độ tương đương. Diện tích dưới đường cong của chất chuyển hóa chính rộng
hơn 2 đến 3 lần so với chất gốc.
Chất chuyển hóa khác, một alcohol, chỉ có mặt
trong khoảng vài phút.
Đào thải :
Trong một vài nghiên cứu ở người trưởng thành
khỏe mạnh, thời gian bán thải trung bình của mefloquine thay đổi giữa 2 và 4
tuần, trung bình khoảng 3 tuần. Độ thanh thải toàn bộ, chủ yếu ở gan, là khoảng
30 ml/phút. Rõ ràng là mefloquine được bài tiết chủ yếu qua mật và phân. Trên
người tình nguyện, việc bài tiết qua nước tiểu dưới dạng mefloquine nguyên dạng
và chất chuyển hóa chính là 9% và 4% của liều. Nồng độ của các chất chuyển hóa
khác không được đo trong nước tiểu.
Trẻ em và người già : không thấy sự thay
đổi rõ rệt liên quan đến tuổi về mặt dược động học của mefloquine. Vì vậy, liều
cho trẻ em được ngoại suy từ liều chỉ định cho người lớn.
Không có nghiên cứu nào về dược động học được
tiến hành trên bệnh nhân suy thận vì chỉ có một tỉ lệ nhỏ thuốc được đào
thải qua thận. Không có sự khác biệt rõ rệt giữa mefloquine và các chất chuyển
hóa chính của nó qua sự thẩm tách máu. Không cần điều chỉnh liều hóa dự phòng
đối với bệnh nhân có thẩm tách để đạt được nồng độ tương tự như những bệnh nhân
khỏe mạnh (người tình nguyện).
Thai nghén không có ảnh hưởng lâm sàng
rõ rệt về dược động học của mefloquine.
Dược động học của mefloquine có thể bị ảnh
hưởng trong sốt rét ác tính.
Đã thấy sự khác biệt về dược động học ở những
chủng tộc dân cư khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này có tầm quan trọng
không lớn so với tình trạng miễn dịch của cơ thể và tính nhạy cảm của ký sinh
trùng.
Khi dùng thuốc phòng ngừa lâu dài, thời
gian bán thải của mefloquine không thay đổi.
CHỈ ĐỊNH
Cũng như phần lớn các thuốc khác, phản ứng quá
mẫn thay đổi từ phản ứng da nhẹ tới phản vệ không thể dự đoán trước được.
Trên những bệnh nhân có động kinh, Lariam có
thể làm tăng nguy cơ co giật. Thuốc do vậy chỉ được chỉ định để điều trị tiệt
bệnh ở những bệnh nhân này và chỉ khi có những lý do y tế bắt buộc phải sử dụng
thuốc (xem phần Tương tác thuốc).
Với những bệnh nhân có suy chức năng gan, việc
đào thải mefloquine có thể bị kéo dài, dẫn tới tăng nồng độ của thuốc trong
huyết tương.
Vì những nguy hiểm tiềm tàng tới sinh mạng do
việc kéo dài khoảng QTc, halofantrine không được dùng cùng lúc hoặc tiếp sau
Lariam. Hiện nay không có tài liệu nào về việc dùng Lariam tiếp sau
halofantrine.
Nếu có các triệu chứng lo âu cấp tính, trầm
cảm, thao thức hoặc lẫn xuất hiện trong quá trình điều trị dự phòng, cần dừng
Lariam và cần một thuốc khác để điều trị dự phòng thay thế.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành
máy móc :
Nếu bệnh nhân thấy chóng mặt, mất thăng bằng
hoặc những rối loạn khác của hệ thần kinh trung ương và ngoại biên thì nên thận
trọng khi lái xe, lái may bay, vận hành máy móc, thợ lặn, hoặc các hoạt động cần
phải phối hợp các động tác nhanh nhẹn, chính xác.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Dùng phối hợp Lariam và các thuốc có liên quan
khác (như quinine, quinidine và cloroquine) có thể gây ra các bất thường trên
điện tâm đồ và làm tăng nguy cơ co giật (xem phần Liều lượng và Cách dùng, mục
Điều trị). Người ta cũng thấy rõ rằng dùng halofantrine sau mefloquine gây ra
kéo dài rõ rệt khoảng QTc. Dấu hiệu của khoảng QTc kéo dài không tìm thấy trên
lâm sàng khi dùng mefloquine đơn độc. Hình như chỉ có một hiện tượng giao thoa
thuốc dạng này trên lâm sàng đối với Lariam mặc dù trên lý thuyết việc dùng phối
hợp với các thuốc khác đã biết có gây ảnh hưởng lên sự dẫn truyền (như thuốc
chống loạn nhịp hoặc chất chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế kênh canxi, kháng
histamine hoặc chất chẹn H1, thuốc chống trầm cảm tricyclic và
phenothiazines) cũng có thể ảnh hưởng đến việc kéo dài khoảng QTc. Không có dữ
liệu để kết luận có hay không việc uống mefloquine và các thuốc trên có ảnh
hưởng lên chức năng tim.
Trên những bệnh nhân đang dùng thuốc chống co
giật (như acid valproic, carbamazepines, phenobarbital hoặc phenytoin), dùng
phối hợp với Lariam có thể làm giảm tác dụng kiểm soát cơn động kinh vì làm giảm
nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống co giật. Trong một số trường hợp
có thể cần dùng thêm liều của thuốc chống co giật (xem phần Thận trọng lúc
dùng).
Khi dùng phối hợp Lariam với vaccin sống chống
thương hàn, không loại trừ được việc làm giảm miễn dịch. Do vậy dùng vaccin với
các vi khuẩn sống giảm độc cần được kết thúc ít nhất 3 ngày trước khi dùng liều
Lariam đầu tiên.
Không thấy những tương tác thuốc nào khác nhưng
dù vậy, những ảnh hưởng của Lariam trên những người du lịch có dùng các loại
thuốc khác, đặc biệt là thuốc chống đông hoặc chống tiểu đường, nên được kiểm
tra trước khi khởi hành.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Với liều dùng trong sốt rét cấp tính, những
phản ứng phụ của Lariam có thể không phân biệt được rõ với bản thân các triệu
chứng của bệnh. Những phản ứng phụ hay gặp nhất khi dùng Lariam dự phòng là buồn
nôn, nôn và chóng mặt thường chỉ ở mức độ nhẹ và giảm dần khi dùng thuốc kéo
dài, mặc dầu hàm lượng thuốc trong huyết tương tăng lên.
Tỷ lệ các phản ứng phụ được báo cáo trong sử
dụng điều trị dự phòng bằng mefloquine có thể so sánh với báo cáo về chế độ điều
trị hóa dự phòng khác. Tài liệu về các phản ứng phụ đặc trưng bởi sự chiếm ưu
thế của các phản ứng phụ về tâm thần kinh.
Những tác dụng phụ hay gặp nhất đã được báo cáo
là buồn nôn, nôn, phân nhão hoặc tiêu chảy và đau bụng, chóng mặt hoặc hoa mắt,
mất thăng bằng, các phản ứng phụ về tâm thần kinh như đau đầu, buồn ngủ, rối
loạn giấc ngủ (mất ngủ, mơ mộng không bình thường).
Những tác dụng phụ ít gặp :
Các rối loạn tâm thần kinh : bệnh thần
kinh về cảm giác và vận động (bao gồm cả dị cảm, run, thất điều), co giật, kích
động hoặc bồn chồn, lo âu, trầm cảm, thay đổi tâm trạng, hoảng sợ, hay quên, lú
lẫn, ảo giác và các phản ứng tâm thần và phản ứng paranoid. Hiếm có ghi nhận về
ý định tự tử nhưng không có mối liên hệ với việc uống thuốc.
Rối loạn hệ tim mạch : rối loạn tuần
hoàn (hạ huyết áp, tăng huyết áp, bốc hỏa, ngất), đau ngực, nhịp tim nhanh, đánh
trống ngực, nhịp tim chậm, mạch không đều, ngoại tâm thu và những thương tổn
khác về dẫn truyền tim.
Da : nổi mẩn, ngoại ban, ban đỏ, mày
đay, ngứa, chàm, rụng tóc.
Hệ cơ xương : yếu cơ, chuột rút, đau cơ,
đau khớp.
Các triệu chứng khác : rối loạn thị lực,
rối loạn tiền đình bao gồm ù tai và suy giảm thính lực, khó thở, suy nhược, khó
chịu, mệt mỏi, sốt, ra mồ hôi, ớn lạnh, khó tiêu, chán ăn.
Các triệu chứng khác : rối loạn thị lực,
rối loạn tiền đình bao gồm ù tai và suy giảm thính lực, khó thở, suy nhược, khó
chịu, mệt mỏi, sốt, ra mồi hôi, ớn lạnh, khó tiêu, chán ăn.
Những bất thường về xét nghiệm : tăng các men
gan thoáng qua, giảm bạch cầu hoặc tăng bạch cầu, giảm tiểu cầu.
Cá biệt có trường hợp gặp hồng ban đa dạng, hội
chứng Stevens-Johnson, block nhĩ thất và bệnh não.
Do thời gian bán hủy của mefloquine dài, các
phản ứng phụ của Lariam có thể xảy ra hoặc tồn tại tới vài tuần sau khi dùng
liều thuốc cuối cùng.
Những nghiên cứu trên in vitro và in vivo cho
thấy không có hiện tượng tan máu phối hợp với việc suy giảm G6PD.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Mefloquine có vị đắng và hơi bỏng rát. Nên nuốt
trọn viên Lariam với ít nhất một cốc nước. Viên thuốc có thể được nghiền và hòa
lẫn với một lượng nhỏ nước, sữa hoặc đồ uống khác để dùng cho trẻ nhỏ hoặc cho
những người không thể nuốt được toàn bộ viên thuốc.
Dự phòng :
Liều chuẩn :
Liều Lariam dự phòng khuyên dùng là vào khoảng
5 mg/kg/một lần trong tuần.
| Trọng lượng (kg) |
Liều |
| 5-10 kg |
1/8 viên* |
| 10-20 kg |
1/4 viên |
| 20-30 kg |
1/2 viên |
| 30-45 kg |
3/4 viên |
| > 45 kg |
1 viên |
* Cơ sở để phân chia viên thuốc dựa trên
liều 5 mg/kg trọng lượng. Liều chính xác cho trẻ nhỏ có trọng lượng thấp hơn 10
kg tốt nhất được chuẩn bị và pha chế bởi dược sĩ.
Liều hàng tuần cần được uống đều đặn, luôn vào
một ngày của từng tuần, tốt nhất là sau bữa ăn chính.
Liều đầu tiên nên dùng ít nhất một tuần trước
khi đến vùng có dịch.
Kinh nghiệm với Lariam cho trẻ nhỏ dưới 3 tháng
tuổi và nặng dưới 5 kg còn hạn chế. Liều cho trẻ lớn được ngoại suy từ liều chỉ
định cho người lớn (xem phần Dược động học).
Chỉ dẫn liều đặc biệt :
Đối với những người du lịch sắp tới vùng có
nguy cơ cao, nếu việc điều trị dự phòng một tuần trước khi tới vùng dịch là
không thể được thì phải dùng "liều tải" bao gồm liều uống hàng tuần cho mỗi ngày
trong 3 ngày liên tiếp, sau đó, dùng liều chuẩn hàng tuần, được chỉ định như sau
:
| Ngày thứ nhất |
Liều thứ nhất |
| Ngày thứ hai |
Liều thứ hai |
| Ngày thứ ba |
Liều thứ ba |
| Sau đó |
liều đều đặn hàng tuần |
Việc sử dụng liều tải có thể phối hợp với việc
tăng các phản ứng phụ.
Trong một số trường hợp, ví dụ như khi một
người đi du lịch đang dùng một thuốc khác, nên bắt đầu dự phòng 2-3 tuần trước
khi khởi hành, với đảm bảo rằng việc phối hợp thuốc được dung nạp tốt (xem phần
Tương tác thuốc).
Để giảm nguy cơ mắc sốt rét sau khi đã rời khỏi
vùng có dịch, nên tiếp tục dùng thuốc thêm 4 tuần nữa để đảm bảo nồng độ thuốc
trong máu có tác dụng khi thể hoa hồng từ trong gan ra ngoài.
Khi việc dự phòng với Lariam thất bại, người
bác sĩ nên đánh giá thận trọng những thuốc chống sốt rét nào có thể sử dụng điều
trị. Nếu dùng halofantrine, xem phần Thận trọng lúc dùng và Tương tác thuốc.
Điều trị :
Liều chuẩn :
Toàn bộ liều điều trị mefloquine khuyên dùng là
20-25 mg/kg cân nặng.
| Trọng lượng (kg) |
Tổng liều |
Chia liều (*) |
| 5-10 kg |
1/2-1 viên |
|
| 10-20 kg |
1-2 viên |
|
| 20-30 kg |
2-3 viên |
2+1 |
| 30-45 kg |
3-4 viên |
2+2 |
| 45-60 kg |
5 viên |
3+2 |
| > 60 kg |
6 viên |
3+2+1 |
* Việc chia tổng liều điều trị ra 2-3 liều uống mỗi 6-8 giờ có thể làm
giảm tần suất và mức độ nặng của tác dụng phụ.<
Kinh nghiệm dùng Lariam ở trẻ nhỏ hơn 3 tháng
hoặc cân nặng dưới 5 kg còn hạn chế.
Không có những thực nghiệm riêng về tổng liều
điều trị nhiều hơn 6 viên ở những bệnh nhân có thể trọng rất nặng.
Chỉ dẫn liều đặc biệt :
Đối với một số người có miễn dịch, như dân cư ở
vùng dịch tễ sốt rét, cần giảm liều thích hợp.
Một liều dùng đầy đủ thứ hai nên được dùng cho
những bệnh nhân bị nôn trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc. Nếu nôn xảy ra
trong vòng 30-60 phút sau khi uống thuốc, nên dùng thêm một nửa liều nữa.
Sau khi điều trị sốt rét do P. vivax,
nên dùng dự phòng lại một dẫn chất của 8-aminoquinoline (ví dụ primaquine) nhằm
loại trừ thể trong gan.
Nếu một đợt điều trị Lariam đầy đủ không giúp
cải thiện bệnh trong vòng 48-72 giờ, không nên sử dụng Lariam để điều trị lại
lần nữa. Nên chọn một điều trị thay thế khác. Khi sốt rét xảy ra trong thời gian
dùng dự phòng bằng Lariam, bác sĩ nên đánh giá cẩn thận nên dùng thuốc nào để
điều trị. Khi dùng halofantrine, cần xem phần Thận trọng lúc dùng và Tương tác
thuốc.
Lariam có thể dùng điều trị sốt rét ác tính
nặng sau khi đã dùng khởi đầu bằng một đợt quinine tiêm tĩnh mạch trong ít nhất
2-3 ngày. Hiện tượng giao thoa gây ra các tác dụng phụ có thể được dự phòng bằng
cách dùng cách quãng ít nhất 12 giờ sau khi dùng liều quinine cuối cùng.
Ở những vùng có sốt rét đa kháng thuốc, khởi
đầu điều trị với artemisinin hoặc một dẫn chất, nếu có, tiếp sau đó dùng Lariam.
Điều trị trong lúc chờ đợi :
Lariam có thể được chỉ định như một thuốc dùng
để cấp cứu tạm thời khi chưa đến được một cơ sở y tế trong vòng 24 giờ sau khi
bắt đầu triệu chứng. Tự điều trị nên bắt đầu với liều khoảng 15 mg/kg ; với bệnh
nhân nặng 45 kg hoặc hơn, liều khởi đầu như vậy sẽ là 3 viên Lariam. Nếu không
thể tới được cơ sở y tế trong vòng 24 giờ, và không có tác dụng phụ nghiêm trọng
nào xảy ra, lần dùng thứ hai của tổng liều điều trị nên được dùng sau 6-8 giờ (2
viên ở bệnh nhân nặng 45 kg hoặc hơn). Những bệnh nhân nặng hơn 60 kg nên dùng
thêm 1 viên sau khi uống liều thứ hai 6-8 giờ (xem phần chỉ định liều cho điều
trị phía trên).
Bệnh nhân nên được khuyên tới khám bác sĩ càng
sớm càng tốt sau khi tự điều trị, thậm chí ngay cả khi họ đã cảm thấy hoàn toàn
bình phục hay đã được khẳng định hoặc bác bỏ bởi sự chẩn đoán.
QUÁ LIỀU