Ceftriaxone là một céphalosporine bán tổng hợp
dạng tiêm, có phổ kháng khuẩn rất rộng, có tác dụng diệt khuẩn do ngăn cản sự
tổng hợp thành tế bào của vi khuẩn : ceftriaxone rất bền vững với beta
lactamase, kể cả pénicillinase và céphalosporinase. Ceftriaxone có tác dụng trên
hầu hết các vi khuẩn Gram âm và Gram dương.
- Loài vi khuẩn nhạy cảm cố định : Haemophilus
influenzae, Haemophilus parainfluenzae, Gonococcus, Meningococcus, Proteus
mirabilis, Streptococus pneumoniae, Streptococcus pyogenes, Colibacillus,
Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus nhạy cảm methicilline, Salmonella,
Shigella, Proteus indole dương tính, Citrobacter, Vibrio, Enterobacter
aerogenes, Enterobacter cloacae, Peptococcus, Peptostreptococcus, Brucella,
Yersinia pestis.
- Loài vi khuẩn không cố định : Staphylococcus
epidermis, Bactoroides fragilis, Clostridium perfringens, Pseudomonas
aeruginosa, Chlamydia trachomatis.
- Loài đề kháng : Streptococcus faecalis,
Acinetobacter, Staphylococcus aureus kháng methicilline, Listeria monocytogenes.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Đặc điểm của ceftriaxone là thời gian bán hủy
dài khoảng 8 giờ ở người lành mạnh. AUC (diện tích dưới đường cong) sau khi tiêm
tĩnh mạch và tiêm bắp giống nhau. Điều này có nghĩa là độ khả dụng sinh học của
ceftriaxone tiêm bắp là 100%. Khi tiêm tĩnh mạch ceftriaxone khuếch tán nhanh
chóng vào dịch gian bào và tính diệt khuẩn tại nơi này kéo dài trong suốt 24
giờ.
- Thải trừ :
Thời gian bán hủy ở người lớn lành mạnh khoảng
8 giờ. Ở trẻ sơ sinh dưới 8 ngày tuổi và người già trên 75 tuổi, thời gian bán
hủy tăng gấp đôi.
Ở người lớn, khoảng 50-60% ceftriaxone được đào
thải qua thận dưới dạng không chuyển hóa ; 40 - 50% còn lại đào thải qua mật và
bị vi khuẩn đường ruột biến đổi thành dạng không tác dụng. Ở trẻ sơ sinh, 70%
ceftriaxone được đào thải qua thận. Ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận hay
gan, dược động học ceftriaxone chỉ bị ảnh hưởng rất ít và thời gian bán hủy tăng
ít. Nếu suy giảm chức năng thận, việc đào thải qua mật tăng lên, ngược lại, nếu
suy giảm chức năng gan, việc đào thải qua thận sẽ tăng lên.
- Gắn kết với protéine :
Ceftriaxone được gắn kết thuận nghịch với
albumine, sự gắn kết giảm khi nồng độ tăng.
Thí dụ :
Nồng độ thuốc trong huyết tương < 100 mg/l ; tỷ
lệ gắn kết là 95%.
Nồng độ thuốc trong huyết tương 300 mg/l ; tỷ
lệ gắn kết là 85%.
Do lượng albumine thấp, tỷ lệ ceftriaxone tự do
trong dịch gian bào cao hơn ở trong huyết tương.
Khuếch tán vào dịch não tủy : ceftriaxone
khuếch tán tốt vào não đang bị viêm nhiễm của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Độ khuếch
tán vào dịch não tủy là 17% so với nồng độ trong huyết tương và như vậy cao gấp
4 lần ở não không nhiễm trùng. Nồng độ Rocéphine trong DNT sau 24 giờ > 1,4 mg/l
khi tiêm tĩnh mạch với liều 50-100 mg/kg. Nồng độ Rocéphine trong DNT sau khi
dùng liều 50 mg/kg thể trọng, sẽ cao hơn rất nhiều lần MIC của hầu hết vi khuẩn
gây viêm màng não trong vòng 2 đến 24 giờ.
CHỈ ĐỊNH
1/ Điều trị nội trú :
Các nhiễm trùng nặng do các vi khuẩn nhạy cảm
với Rocéphine. Thí dụ : nhiễm trùng huyết, viêm màng não, nhiễm trùng ổ bụng
(viêm phúc mạc, nhiễm trùng đường mật và đường tiêu hóa), nhiễm trùng xương,
khớp, da và mô mềm, nhiễm trùng vết thương.
Dự phòng nhiễm trùng trước, trong và sau mổ.
Nhiễm trùng ở bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.
Nhiễm trùng thận và đường tiểu.
Nhiễm trùng hô hấp, nhất là viêm phổi và nhiễm
trùng tai, mũi, họng.
Nhiễm trùng đường sinh dục, kể cả bệnh lậu.
2/ Điều trị ngoại trú :
Tiếp tục điều trị sau khi xuất viện.
Các thể nặng nhiễm trùng đường hô hấp dưới, đặc
biệt ở người có nguy cơ (lớn tuổi, nghiện rượu, suy giảm miễn dịch, hút thuốc,
suy hô hấp...), đáng chú ý là :
Bệnh phổi do vi khuẩn Pneumococcus, thường dự
đoán là trực khuẩn Gram âm.
Cơn bộc phát của viêm phế quản mãn, thường do
bội nhiễm.
Nhiễm trùng đường tiểu nặng và/hoặc do các
chủng kháng thuốc.
Viêm đài bể thận cấp.
Nhiễm trùng đường tiểu dưới, kèm hội chứng
nhiễm khuẩn.
Cơn bộc phát của viêm tuyến tiền liệt mạn tính.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Rocéphine được dung nạp tốt.
Các tác dụng ngoại ý thường thoáng qua hay chấm
dứt khi ngưng thuốc.
Biểu hiện đường tiêu hóa (khoảng 2%) : tiêu
chảy, viêm đại tràng giả mạc (rất hiếm).
Biểu hiện ở máu (khoảng 2%) : tăng bạch cầu ái
toan, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.
Biểu hiện ở da (khoảng 1%) : nổi mề đay, phát
ban dạng sởi, ngứa, nổi ban.
Các tác dụng ngoại ý khác rất hiếm : nhức đầu,
khó chịu, tăng transaminase, tăng créatinine huyết, urê huyết...
Viêm tĩnh mạch tại chỗ có thể xảy ra sau khi
tiêm.
Nên tiêm chậm : 2 - 4 phút.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Cách dùng :
Rocéphine có thể tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh
mạch ngắn hạn, tiêm bắp và cũng có thể tiêm dưới da.
Tiêm tĩnh mạch : hòa tan Rocéphine vào dung
dịch pha, tiêm chậm 2-4 phút thẳng vào tĩnh mạch hay qua đường truyền dịch. Độ
pha loãng tối thiểu : 1 g cho 10 ml.
Truyền tĩnh mạch : hoà tan 2 g Rocéphine trong
40 ml một trong các dung dịch sau : chlorure natri 0,9%, glucose 5% hay 10%,
chlorure natri 0,45% + glucose 0,25%, levulose 5%, dextran 6%. Thời gian truyền
5-15 phút.
Tiêm bắp :
Hoà tan Rocéphine với dung dịch có 1%
lidocaine, tiêm sâu.
Không nên tiêm quá 1 g vào cùng một bên.
Dung dịch đã pha bền vững trong 6 giờ ở nhiệt
độ phòng và trong 24 giờ ở 5oC.
Điều trị nội trú :
Người lớn : 1 đến 2 g, tiêm một lần duy nhất
mỗi ngày.
Trẻ em : trung bình 50 mg/kg/ngày, tiêm 1 lần.
Trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh :
- Trẻ sơ sinh dưới một tháng tuổi, liều khuyến
cáo là 50 mg/kg/24 giờ, trong tất cả các chỉ định.
- Ở trẻ nhũ nhi, liều trung bình là 50 mg/kg/24
giờ, tiêm một lần.
Trong viêm màng não : tiêm 1 lần liều 50-100
mg/kg/ngày, liều 100 mg thường để điều trị tấn công. Tuy nhiên, ở trẻ nhũ nhi,
3-12 tháng tuổi, do thời gian bán hủy ngắn hơn, có thể tiêm mỗi 12 giờ 1 lần.
Trong suy thận : không cần giảm liều hay chia
liều. Trong trường hợp vừa suy thận và suy gan, nên kiểm soát nồng độ thuốc
trong máu để điều chỉnh liều tiêm thích hợp.
Trong thẩm tích máu : Rocéphine ít bị thẩm
phân. Liều 2 g sau mỗi đợt thẩm tích đủ hiệu quả đến lần sau.
Trong lậu cấp : dùng liều duy nhất 250 mg tiêm
bắp.
Trong dự phòng nhiễm trùng phẫu thuật : trong
các phẫu thuật có bội nhiễm hoặc nguy cơ bội nhiễm cao, tùy thuộc vào mức độ
nguy cơ tiêm 1 liều duy nhất 1-2 g Rocéphine, trước khi mổ 30 - 90 phút.
Điều trị ngoại trú :
Người lớn : 1 g mỗi ngày, tiêm 1 lần.
Trẻ em : 50 mg/kg/24 giờ, tiêm 1 lần. Không nên
quá 1 g mỗi ngày.