Dược động học của zalcitabine đã được đánh giá
qua các nghiên cứu trên bệnh nhân người lớn đã bị nhiễm VIH sau khi dùng các
liều uống 0,01 mg/kg, 0,03 mg/kg và 1,5 mg và dùng đường tiêm tĩnh mạch liều 1,5
mg (trong 1 giờ).
Hấp thu và sinh khả dụng :
Bệnh nhân đã bị nhiễm VIH, sau khi uống thuốc,
có sinh khả dụng trung bình tuyệt đối trên 80%.
Sự hấp thu zalcitabine liều 1,5 mg bằng đường
uống (n = 20) bị giảm khi dùng chung với thức ăn, kết quả là nồng độ tối đa
trung bình trong máu (Cmax) sẽ giảm 39%, từ 25,2 ng/ml xuống còn 15,5 ng/ml, và
tăng gấp đôi thời hạn trung bình cần thiết để đạt được nồng độ tối đa (Tmax), từ
0,8 giờ (lúc đói) lên 1,6 giờ (khi có thức ăn). Diện tích dưới đường cong phản
ánh mức trung bình hấp thu cũng giảm 14%. Ảnh hưởng trên lâm sàng của sự giảm
này chưa được biết đến.
Phân phối :
Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều 1,5 mg
zalcitabine, thể tích phân phối ở tình trạng cân bằng trung bình là 0,634 l/kg
(+/- 0,127). Gắn kết với protéine huyết tương dưới 4%, điều này có nghĩa là
không chắc có xảy ra tương tác với các thuốc có gắn kết cao với protéine huyết
tương.
Các nồng độ đo lường được của zalcitabine được
phát hiện trong dịch não tủy từ 2 đến 3,5 giờ sau khi truyền tĩnh mạch 0,06
mg/kg hoặc 0,09 mg/kg. Tương quan giữa các nồng độ (dịch não tủy - huyết tương)
được ghi nhận trong khoảng 9-37% (trung bình 20%), điều này cho thấy rằng hoạt
chất thuốc đi qua được hàng rào máu não.
Chuyển hóa và đào thải :
Zalcitabine được phosphoryl hóa ở trong tế bào
thành zalcitabine triphosphate, là chất nền của men transcriptase đảo ngược của
VIH. Nồng độ của zalcitabine triphosphate rất thấp không thể định lượng được sau
khi dùng với liều điều trị ở người.
Sự chuyển hóa của zalcitabine ở người không
được đánh giá hoàn toàn. Zalcitabine không bị chuyển hóa đáng kể ở gan. Bài tiết
qua thận là đường đào thải chánh, chiếm khoảng 70% liều uống được đánh dấu bằng
đồng vị phóng xạ trong 24 giờ đầu. Thời gian bán hủy đào thải trung bình là 2
giờ và dao động từ 1 đến 3 giờ ở từng bệnh nhân.
Thời gian bán hủy trong tế bào của chất chuyển
hóa có hoạt tính (ddCTP) trong khoảng từ 7 đến 10 giờ.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, thanh thải hoàn toàn
trong cơ thể trung bình là 285 ml/phút.
Lượng zalcitabine đã được đánh dấu được đào
thải qua phân dưới 10%.
Các kết quả ghi nhận được ở người suy thận
(thanh thải créatinine dưới 55 ml/phút) cho thấy rằng thời gian bán hủy của
zalcitabine dài hơn (cho đến 8,5 giờ) so với người có chức năng thận bình
thường. Sau khi dùng liều duy nhất, đỉnh hấp thu trong huyết tương cao hơn ở một
vài bệnh nhân.
Ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, dược
động học của zalcitabine không bị biến đổi sau khi dùng các liều lặp lại 3
lần/ngày. Sự tích tụ của hoạt chất trong huyết tương không đáng kể.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Tính dung nạp của Hivid chưa được thiết lập ở
trẻ em dưới 13 tuổi và ở bệnh nhân bị nhiễm VIH nhưng không có triệu chứng.
Bệnh thần kinh ngoại biên :
Biểu hiện ngộ độc chính của Hivid trên lâm sàng
là gây các bệnh thần kinh ngoại biên. Bệnh thần kinh ngoại biên có liên quan đến
Hivid là bệnh thần kinh cảm giác-vận động được đặc trưng ban đầu bởi sự đờ đẫn
và loạn cảm giác kiểu cảm giác rát bỏng ở các đầu ngón. Sau đó là các cảm giác
đau nhói cấp tính hoặc có cảm giác rát bỏng kéo dài và trầm trọng nếu không
ngưng dùng thuốc. Bệnh thần kinh có thể tiến triển theo hướng gây các cơn đau
nặng cần phải dùng đến các dẫn xuất opium để làm dịu, và có thể không hồi phục
được, nhất là nếu không ngưng sớm Hivid. Ở một vài bệnh nhân, các triệu chứng
bệnh thần kinh có thể tiếp tục và tiến triển thêm trong một thời gian mặc dầu đã
ngưng dùng Hivid. Nếu Hivid được ngưng sớm, bệnh thần kinh thường thường sẽ được
hồi phục từ từ.
Nên khuyên bệnh nhân nếu đã có biểu hiện của
bệnh thần kinh từ trung bình đến nặng với các triệu chứng kèm theo các dấu hiệu
cụ thể, nên tránh mọi sự điều trị bằng Hivid.
Hivid phải được sử dụng thật thận trọng ở những
bệnh nhân đã có một bệnh lý thần kinh ngoại biên trước đó. Hivid cũng phải được
sử dụng thật thận trọng ở những bệnh nhân có hàm lượng CD4 thấp (CD4 < 50 tế
bào/mm3) do có nguy cơ cao phát triển các bệnh thần kinh ngoại biên
khi điều trị bệnh Hivid. Nên đặc biệt theo dõi ở những bệnh nhân này.
Viêm tụy :
Viêm tụy gây tử vong đã được quan sát khi điều
trị bằng Hivid. Viêm tụy là một biến chứng ít xảy ra hơn khi điều trị bằng Hivid
với tỉ lệ dưới 1% bệnh nhân. Tăng amylase huyết cũng xảy ra (nguyên nhân lẫn
lộn) với tỉ lệ dưới 1%.
Phải thận trọng khi sử dụng Hivid cho bệnh nhân
đã có tiền sử bị viêm tụy hoặc có yếu tố gây nguy cơ làm tăng khả năng bị viêm
tụy.
Bệnh nhân có tiền sử bị viêm tụy hoặc tăng
amylase huyết phải được theo dõi thật thận trọng khi điều trị bằng Hivid. Phải
ngưng việc điều trị nếu amylase huyết tăng cao với loạn đường huyết, tăng
triglycéride, giảm calci huyết hoặc các thông số khác cho thấy sắp xảy ra viêm
tụy, cho đến khi đặt được chẩn đoán lâm sàng. Việc điều trị bằng Hivid cũng phải
được gián đoạn nếu dùng chung với một thuốc khác có thể gây viêm tụy (chẳng hạn
pentamidine đường tĩnh mạch).
Sử dụng Hivid trở lại sau khi đã loại trừ chứng
viêm tụy. Nếu xảy ra viêm tụy khi điều trị bằng Hivid, cần ngưng vĩnh viễn Hivid
ở những bệnh nhân này.
Các biểu hiện độc tính nghiêm trọng khác
:
Một vài trường hợp ít gặp loét thực quản và
phản ứng quá mẫn (phản ứng phản vệ, nổi mề đay không có các dấu hiệu khác của
phản vệ) đã được mô tả ở bệnh nhân được điều trị bằng Hivid. Cần xem xét khả
năng phải ngưng tạm thời Hivid nếu chứng loét thực quản không đáp ứng với những
điều trị chuyên biệt được sử dụng nhằm loại các nguyên nhân gây bệnh cơ hội.
Một vài trường hợp ít gặp bệnh lý cơ tim và suy
tim sung huyết đã được quan sát ở bệnh nhân được trị bằng Hivid. Hivid phải được
sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử bị bệnh lý cơ tim và suy tim
sung huyết.
Những trường hợp hiếm gây nhiễm toan acide
lactique khi không có giảm oxy huyết cũng như những trường hợp hiếm gây chứng
gan to nghiêm trọng với nhiễm mỡ đã được báo cáo khi điều trị bằng các chất
tương tự nucléoside (zidovudine, zalcitabine). Các tình huống này có thể đe dọa
đến tiên lượng sống còn.
Mặt khác, những trường hợp suy gan phối hợp với
viêm gan siêu vi B tiềm ẩn khi điều trị bằng Hivid cũng đã được ghi nhận.
Do đó, việc điều trị bằng Hivid phải được thận
trọng ở bệnh nhân đã bị bệnh gan trước đó, có các bất thường về men gan, có tiền
sử nghiện rượu hoặc viêm gan. Việc điều trị bằng Hivid phải được gián đoạn hoặc
ngưng vĩnh viễn, do thận trọng, trong những trường hợp sau : nặng lên các kết
quả về test chức năng gan, gan nhiễm mỡ, gan to tiến triển, nhiễm toan acide
lactique không giải thích được.
Thông tin cho bệnh nhân :
Bệnh nhân phải được thông báo rằng Hivid không
thể chữa khỏi nhiễm trùng do VIH, rằng họ vẫn có thể bị những bệnh có liên quan
đến nhiễm trùng do VIH ở giai đoạn phát bệnh, chủ yếu là các nhiễm trùng cơ hội,
và rằng Hivid không được chứng minh làm giảm được mức độ và tần xuất xảy ra các
bệnh này.
Rất khó phân biệt được sự xuất hiện của một vài
triệu chứng là nguyên nhân do tác dụng ngoại ý của thuốc hay do biểu hiện của
một bệnh tiềm ẩn, bệnh nhân cần báo cho bác sĩ tất cả những biến chuyển của tình
trạng bệnh của mình.
Bệnh nhân cần biết rằng khi sử dụng Hivid hoặc
các thuốc kháng rétrovirus khác cũng phải luôn luôn áp dụng các biện pháp ngăn
ngừa lây lan VIH.
Cần giải thích cho bệnh nhân về những triệu
chứng đầu tiên của bệnh thần kinh ngoại biên và viêm tụy và yêu cầu bệnh nhân
thông báo ngay cho bác sĩ nếu có xảy ra các triệu chứng này. Vì sự phát triển
của bệnh thần kinh ngoại biên có liên quan đến liều, bệnh nhân cần tuân thủ về
chế độ liều lượng đã được chỉ định với Hivid.
Khi điều trị bằng Hivid, phụ nữ trong tuổi sinh
đẻ phải áp dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả.
Các tình huống lâm sàng đặc biệt :
Suy thận :
Tính dung nạp và hiệu lực của Hivid không được
thiết lập ở bệnh nhân suy thận.
Suy gan :
Bệnh nhân đã bị bệnh gan trước đó hoặc có tiền
sử bị nghiện rượu, dùng Hivid có thể làm nặng thêm các rối loạn chức năng gan.
Trong nhi khoa :
Tính dung nạp và hiệu lực của Hivid chưa được
thiết lập ở trẻ em dưới 13 tuổi.
LÚC CÓ THAI
Phối hợp Hivid với các thuốc có thể gây bệnh
thần kinh ngoại biên, nếu có thể, cần nên tránh. Các thuốc có thể gây bệnh thần
kinh ngoại biên bao gồm : chloramphénicol, cisplatine, dapsone, disulfirame,
éthionamide, glutéthimide, vàng, hydralazine, iodoquinol, isoniazide,
métronidazole, nitrofurantoine, phénytoine, ribavirine và vincristine.
Phối hợp Hivid và didanosine không được khuyến
cáo.
Các thuốc như amphotéricine, foscarnet và
aminoside có thể tăng nguy cơ gây các bệnh thần kinh ngoại biên và các tác dụng
phụ của Hivid bằng cách ảnh hưởng lên sự thanh thải của zalcitabine ở thận.
Trường hợp dùng một trong các thuốc này với
Hivid, cần theo dõi lâm sàng và sinh học thường xuyên và điều chỉnh liều nếu có
thay đổi chức năng thận đáng kể.
Việc điều trị bằng Hivid phải được gián đoạn
khi cần dùng một thuốc có khả năng gây viêm tụy.
Đã có báo cáo về trường hợp bị tử vong do viêm
tụy đột ngột có liên quan đến sử dụng Hivid và pentamidine đường tĩnh mạch :
trường hợp điều trị một bệnh phổi do Pneumocystis carinii bằng pentamidine đường
tĩnh mạch, phải ngưng điều trị bằng Hivid (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc
dùng).
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Tác dụng ngoại ý chính là bệnh thần kinh ngoại
biên, chiếm 20-30% trường hợp (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
Các tác dụng ngoại ý khác thường được báo cáo
(> 3%), bao gồm :
- ống tiêu hóa : loét miệng (7,8%), khó nuốt,
chán ăn, tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, táo bón ;
- da và các phần phụ : phát ban, ngứa, vã mồ
hôi ;
- hệ thần kinh trung ương và ngoại biên : nhức
đầu, chóng mặt ;
- hệ vận động : đau cơ, đau khớp ;
- các dấu hiệu tổng quát : giảm cân, mệt mỏi,
sốt, rét run, đau ngực ;
- đường hô hấp : viêm hầu ;
- các tác dụng ngoại ý trên kết quả sinh học :
thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, tăng bạch cầu ưa éosine,
giảm tiểu cầu, tăng TGP, tăng TGO, tăng phosphate kiềm.
Các tác dụng ngoại ý ít gặp hơn hoặc hiếm hơn
(< 3%) được báo cáo, bao gồm :
- các dấu hiệu tổng quát : suy nhược, đau đớn,
đau sau xương ức, bất ổn, phù nề ;
- hệ tim mạch : cao huyết áp, đánh trống ngực,
ngất, rung nhĩ, nhịp tim nhanh, bệnh cơ tim ;
- ống tiêu hóa : khô miệng, loét thực quản, khó
tiêu, viêm lưỡi, đau thực quản, đau trực tràng, trĩ, loét trực tràng, đầy hơi,
loét lưỡi, tăng thể tích bụng, bất thường ở nướu răng, viêm miệng, ợ hơi, viêm
bao tử, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm tụy, tăng thể tích các tuyến nước bọt,
vàng da, viêm thực quản ;
- gan : tổn thương tế bào gan, viêm gan, bất
thường các chức năng gan ;
- hệ vận động : đau vai, vọp bẻ ở chân, đau bàn
chân, đau cánh tay, viêm khớp, bệnh khớp, lạnh ở các đầu chi, đau ở cổ tay, viêm
cơ ;
- hệ thần kinh : tăng trương lực, run rẩy (chủ
yếu ở bàn tay), rung cơ cục bộ, co giật, mất điều hòa, bất thường trong sự phối
hợp các động tác, dị cảm Bell, khó phát âm, tăng động, nhức nửa đầu, đau thần
kinh, viêm thần kinh, trạng thái tê mê, chóng mặt ;
- tâm thần : lẫn lộn, khó khăn trong sự tập
trung, mất trí nhớ, mất ngủ, ngủ gà, trầm cảm, kích động, mất nhân cách, xúc cảm
không ổn định, cáu gắt, lo âu, sảng khóai, lập dị, sa sút trí tuệ ;
- hệ hô hấp : ho, khó thở, tím tái ;
- da : viêm da, rụng tóc, nổi mề đay, ban da
dạng sần, tổn thương ở da, mụn trứng cá, phát ban có bọng nước, phản ứng vận
mạch ;
- cơ quan cảm giác : hỏng vị giác, khô mắt, bất
thường thị giác, đau mắt, mất thường ở mắt, ù tai, điếc, loạn khướu giác ;
- đường niệu : đi tiểu nhiều lần, bất thường
chức năng thận, suy thận cấp tính, u nang ở thận, bệnh goutte, bệnh thận do ngộ
độc, đa niệu, sỏi thận, tăng urê huyết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG