Calcitriol, một trong những chất chuyển hóa có
hoạt tính của vitamine D3, bình thường được tạo thành ở thận từ một
tiền chất của nó là 25-hydroxycholécalciférol (25-HCC). Bình thường, lượng chất
này được hình thành mỗi ngày là 0,5-1,0 mg,
và tăng nhiều hơn trong giai đoạn mà sự tạo xương tăng cao (chẳng hạn trong giai
đoạn tăng trưởng hoặc lúc có thai). Calcitriol làm thuận lợi cho sự hấp thu
calci ở ruột và điều tiết sự khoáng hóa xương.
Calcitriol đóng vai trò chủ chốt trong sự điều
hòa bất biến nội môi của calci, đồng thời kích thích sự tạo xương, đây là một cơ
sở dược lý cho tác động điều trị chứng loãng xương.
Ở bệnh nhân bị suy thận nặng, sự tổng hợp
calcitriol nội sinh giảm và có thể ngưng hoàn toàn. Thiếu calcitriol trong
trường hợp này là nguyên nhân chính gây loạn dưỡng xương do thận.
Ở bệnh nhân bị loãng xương do thận, Rocaltrol
uống làm bình thường hóa sự hấp thu calci vốn đã bị suy giảm ở ruột, như thế
điều chỉnh tình trạng hạ calci huyết và các nồng độ cao trong huyết thanh của
phosphatase kiềm và hormone cận giáp. Rocaltrol làm giảm các chứng đau xương và
cơ, điều chỉnh các tình trạng sai lệch về mô học ở bệnh viêm xương xơ hóa và rối
loạn khác của sự khoáng hóa.
Ở những bệnh nhân bị thiểu năng tuyến cận giáp
sau phẫu thuật, thiểu năng tuyến cận giáp tự phát hay thiểu năng tuyến cận giáp
giả, dùng Rocaltrol sẽ làm giảm hạ calci huyết cũng như cải thiện các triệu
chứng trên lâm sàng.
Ở những bệnh nhân bị còi xương có đáp ứng với
vitamine D, nồng độ của calcitriol trong huyết thanh thấp, thậm chí không có. Do
việc tạo calcitriol nội sinh ở thận không đủ, việc dùng Rocaltrol phải được xem
như là một trị liệu thay thế.
Ở những bệnh nhân bị còi xương không đáp ứng
với vitamine D (còi xương giảm phosphate huyết nguyên phát), phối hợp với nồng
độ calcitriol thấp trong huyết tương, việc điều trị bằng Rocaltrol làm giảm sự
đào thải phosphate qua ống thận và bình thường hóa việc hình thành xương do bổ
sung nguồn phosphore.
Ngoài ra, việc điều trị bằng Rocaltrol tỏ ra có
ích ở những bệnh nhân bị các dạng còi xương khác, chẳng hạn còi xương có liên
quan đến viêm gan ở trẻ sơ sinh, thiếu phát triển đường mật, bệnh loạn dưỡng
cystine hoặc việc cung cấp calci và vitamine D qua thức ăn không đầy đủ.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Calcitriol được hấp thu nhanh ở ruột. Sau khi
uống liều duy nhất 0,25 đến 1 mg
Rocaltrol, các nồng độ tối đa đạt được sau 3 đến 6 giờ.
Sau khi uống lặp lại nhiều lần, nồng độ của
calcitriol trong huyết thanh đạt tình trạng cân bằng sau 7 ngày.
Phân phối :
Hai giờ sau khi uống liều duy nhất 0,5
mg Rocaltrol,
các nồng độ trung bình trong huyết thanh của calcitriol tăng từ 40,0 +/- 4,4
pg/ml đến 60,0 +/- 4,4 pg/ml, và giảm còn 53,0 +/- 6,9 pg/ml sau 4 giờ, 50 +/-
7,0 pg/ml sau 8 giờ, 44 +/- 4,6 pg/ml sau 12 giờ và 41,5 +/- 5,1 pg/ml sau 24
giờ.
Calcitriol và các chất chuyển hóa khác của
vitamine D liên kết với những protéine chuyên biệt của huyết tương trong quá
trình vận chuyển trong máu.
Calcitriol có nguồn gốc ngoại sinh qua được
hàng rào nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ.
Chuyển hóa :
Nhiều chất chuyển hóa khác nhau của calcitriol,
thể hiện các tác động khác nhau của vitamine D, đã được nhận dạng : 1a,25-dihydroxy-24-oxo-cholécalciférol,
1a,24R,25-trihydroxy-24-oxo-cholécalciférol,
1a,24R,25-trihydroxycholécalciférol,
1a,25R-dihydroxycholécalciférol-26,23S-lactone,
1a,25S,26-trihydroxycholécalciférol,
1a,25-dihydroxy-23-oxo-cholécalciférol,
1a,25R,26-trihydroxy-23-oxo-cholécalciférol
và 1a-hydroxy-23-carboxy-24,25,26,27-tétranorcholécalciférol.
Đào thải :
Thời gian bán hủy đào thải của calcitriol
khoảng 9 đến 10 giờ. Tuy nhiên thời gian duy trì tác dụng dược lý của một liều
duy nhất khoảng 7 ngày. Calcitriol được bài tiết qua mật và chịu ảnh hưởng của
chu kỳ gan-ruột. 24 giờ sau khi tiêm tĩnh mạch calcitriol được đánh dấu phóng xạ
ở người khỏe mạnh, khoảng 27% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân và
khoảng 7% trong nước tiểu. 24 giờ sau khi uống liều 1
mg calcitriol
được đánh dấu phóng xạ ở người khỏe mạnh, khoảng 10% liều calcitriol có đánh dấu
được tìm thấy trong nước tiểu. Lượng đào thải tổng cộng của hoạt tính phóng xạ
trong 6 ngày sau khi tiêm tĩnh mạch calcitriol được đánh dấu phóng xạ chiếm
khoảng 16% trong nước tiểu và 36% trong phân.
CHỈ ĐỊNH
Giữa việc điều trị bằng calcitriol và tăng
calci huyết có mối tương quan chặt chẽ. Trong các nghiên cứu trên bệnh loạn
dưỡng xương có nguồn gốc do thận, có gần 40% bệnh nhân được điều trị bằng
calcitriol có tăng calci huyết. Nếu tăng đột ngột cung cấp calci do thay đổi
thói quen ăn uống (như ăn hoặc uống nhiều sản phẩm chế biến từ sữa) hoặc dùng
không kiểm soát các thuốc có chứa calci có thể sẽ gây tăng calci huyết. Nên
khuyên bệnh nhân chấp hành tốt chế độ ăn uống và thông báo cho bệnh nhân về
những triệu chứng của tăng calci huyết có thể xảy ra.
Bệnh nhân nằm bất động lâu ngày, chẳng hạn sau
phẫu thuật, dễ có nguy cơ bị tăng calci huyết.
Bệnh nhân có chức năng thận bình thường, nếu
xảy ra tăng calci huyết mãn tính có thể sẽ phối hợp với tăng créatinine huyết
thanh.
Đặc biệt thận trọng khi dùng cho bệnh nhân có
tiền sử bị sỏi thận hoặc bệnh mạch vành.
Calcitriol làm tăng nồng độ các phosphate vô cơ
trong huyết thanh. Trong khi tác dụng này được mong muốn ở những bệnh nhân bị hạ
phosphate huyết, cần phải thận trọng ở bệnh nhân bị suy thận, do nguy cơ gây vôi
hóa lạc chỗ. Trong những trường hợp này, nên duy trì nồng độ phosphate trong
huyết tương ở mức bình thường (2 đến 5 mg/100 ml, tương ứng 0,65 đến 1,62
mmol/l) bằng cách dùng các chất tạo phức chelate với phosphore như hydroxyde hay
carbonate aluminium.
Ở bệnh nhân bị còi xương kháng vitamine D (còi
xương giảm phosphate huyết gia đình) và được điều trị bằng Rocaltrol, nên tiếp
tục dùng thêm phosphate bằng đường uống. Tuy nhiên cũng nên lưu ý đến khả năng
Rocaltrol có thể kích thích sự hấp thu phosphate ở ruột, vì điều này có thể làm
thay đổi nhu cầu về phosphate bổ sung.
Nên đều đặn kiểm tra nồng độ calci, phosphore,
magnésium và phosphatase kiềm trong huyết thanh, cũng như nồng độ của calci và
phosphate trong nước tiểu trong 24 giờ. Trong giai đoạn đầu điều trị bằng
Rocaltrol, nên kiểm tra nồng độ calci trong huyết tương ít nhất 2 lần mỗi tuần
(xem Liều lượng và Cách dùng).
Calcitriol là chất chuyển hóa có hoạt tính mạnh
nhất của vitamine D, do đó không nên dùng kèm thêm những thuốc khác có chứa
vitamine D trong thời gian điều trị bằng Rocaltrol, nhằm tránh tình trạng tăng
vitamine D bệnh lý có thể xảy ra.
Nếu chuyển từ điều trị bằng ergocalciférol
(vitamine D2) qua điều trị bằng calcitriol, có thể cần phải đến nhiều
tháng để nồng độ ergocalciférol trở về giá trị ban đầu (xem Quá liều).
Bệnh nhân có chức năng thận bình thường được
điều trị bằng Rocaltrol cần lưu ý tình trạng mất nước có thể xảy ra, và nên uống
đủ nước.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Calcitriol là một trong những chất chuyển hóa
chính có hoạt tính của vitamine D, do đó không nên phối hợp thêm với vitamine D
hay các dẫn xuất, nhằm tránh tác dụng cộng lực có thể xảy ra với nguy cơ tăng
calci huyết.
Nên chấp hành tốt lời khuyên của bác sĩ về chế
độ ăn uống, chủ yếu các thức ăn có thể cung cấp nhiều calci, tránh dùng các
thuốc có chứa calci.
Dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu thiazide làm
tăng nguy cơ tăng calci huyết ở bệnh nhân bị thiểu năng tuyến cận giáp. Ở những
bệnh nhân đang được điều trị bằng digitalis, nên xác định liều calcitriol một
cách cẩn thận, do tăng calci huyết có thể phát động loạn nhịp.
Có một sự đối kháng về chức năng giữa các chất
giống vitamine D và corticoide : các chất giống vitamine D tạo thuận lợi cho sự
hấp thu calci, trong khi corticoide thì ức chế quá trình này.
Để tránh tăng magnesium huyết, tránh dùng cho
những bệnh nhân phải chạy thận mãn tính những thuốc có chứa magnesium (như các
thuốc kháng acide) trong thời gian điều trị bằng Rocaltrol.
Calcitriol cũng tác động lên sự vận chuyển
phosphate ở ruột, ở thận và ở xương ; dùng các thuốc tạo phức chelate với
phosphate phải được điều chỉnh theo nồng độ trong huyết thanh của phosphate (giá
trị bình thường : 2-5 mg/100 ml, tương ứng 0,6-1,6 mmol/l).
Ở những bệnh nhân bị còi xương kháng vitamine D
(còi xương giảm phosphate huyết gia đình), cần tiếp tục dùng phosphate bằng
đường uống. Tuy nhiên cũng nên lưu ý rằng calcitriol có thể kích thích sự hấp
thu phosphate ở ruột, do đó có thể làm giảm nhu cầu về phosphate bổ sung.
Dùng các thuốc gây cảm ứng men như phénytoine
hay phénobarbital có thể làm tăng sự chuyển hóa của calcitriol và như thế làm
giảm nồng độ của chất này trong huyết thanh.
Colestyramine có thể làm giảm sự hấp thu các
vitamine tan trong dầu và như thế cũng ảnh hưởng đến sự hấp thu của calcitriol.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Liều thông thường :
Phải xác định cẩn thận liều tối ưu hàng ngày
của Rocaltrol cho từng bệnh nhân theo calci huyết.
Việc điều trị bằng Rocaltrol phải luôn luôn bắt
đầu ở liều khuyến cáo thấp nhất có thể được và chỉ tăng khi có sự kiểm soát chặt
chẽ calci huyết.
Ngay khi đã tìm được liều tối ưu của Rocaltrol,
phải kiểm tra calci huyết mỗi tháng (hoặc theo các đề nghị phía dưới, cho những
chỉ định khác nhau). Khi lấy máu để định lượng calci phải được thực hiện không
có dây thắt garrot.
Ngay khi nồng độ calci trong huyết thanh vượt
quá 1 mg/100ml (hay 0,25 mmol/l) giá trị bình thường (9-11 mg/100 ml, hay
2,25-2,75 mmol/l), cần phải giảm liều hoặc tạm thời ngưng dùng Rocaltrol cho đến
khi calci huyết trở về bình thường.
Trong thời gian bệnh nhân bị tăng calci huyết,
phải kiểm tra nồng độ calci và phosphate trong huyết thanh hàng ngày. Khi các
giá trị trở về bình thường, có thể dùng trở lại Rocaltrol với liều thấp hơn 0,25
mg so
với dùng trước đó.
Để Rocaltrol có hiệu lực tối ưu, trong giai
đoạn đầu bệnh nhân phải được bổ sung một lượng calci đầy đủ, nhưng không được
nhiều quá.
Ở người lớn, liều calci hàng ngày (có nguồn gốc
từ thức ăn và thuốc) vào khoảng 800 mg, không được vượt quá 1000 mg.
Do làm cải thiện sự hấp thu calci ở ống tiêu
hóa, có thể giảm lượng calci trong thức ăn và thức uống ở những bệnh nhân được
điều trị bằng Rocaltrol. Bệnh nhân có khuynh hướng tăng calci huyết chỉ cần dùng
liều thấp calci, thậm chí không cần bổ sung calci.
Các hướng dẫn đặc biệt về liều lượng :
Loãng xương sau mãn kinh :
Liều khuyến cáo là 0,25
mg, 2
lần/ngày, uống thuốc không nhai. Ở bệnh nhân được cung cấp dưới 500 mg calci từ
thức ăn, nên kê toa thêm calci. Lượng calci cung cấp hàng ngày không vượt quá
1000 mg.
Nồng độ calci và créatinine trong huyết thanh
phải được kiểm tra vào tuần thứ 4, tháng thứ 3 và tháng thứ 6, sau đó mỗi 6
tháng.
Loạn dưỡng xương có nguồn gốc do thận (bệnh
nhân phải chạy thận) :
Liều khởi đầu hàng ngày là 0,25
mg. Ở người
có calci huyết bình thường hay hạ calci huyết nhẹ, dùng liều 0,25
mg
mỗi 2 ngày là đủ. Nếu các thông số lâm sàng và sinh hóa không tiến triển theo
chiều hướng tốt sau khoảng 2 đến 4 tuần, có thể tăng liều hàng ngày thêm 0,25
mg
cách khoảng sau 2 đến 4 tuần. Trong giai đoạn này, cần kiểm tra nồng độ calci
trong huyết tương ít nhất 2 lần mỗi tuần. Đa số bệnh nhân có đáp ứng tốt với
liều từ 0,5 đến 1 mg/ngày.
Có thể cần dùng liều cao nếu có phối hợp với barbiturate hay các thuốc chống
động kinh.
Thiểu năng tuyến cận giáp và còi xương :
Liều khởi đầu được khuyến cáo là 0,25
mg/ngày, uống
vào buổi sáng. Nếu các thông số lâm sàng và sinh hóa không tiến triển theo chiều
hướng tốt, có thể tăng liều hàng ngày thêm 0,25
mg
cách khoảng sau 2 đến 4 tuần. Trong giai đoạn này, cần kiểm tra nồng độ calci
trong huyết tương ít nhất 2 lần mỗi tuần.
Ở bệnh nhân bị thiểu năng tuyến cận giáp, đôi
khi ghi nhận có hội chứng kém hấp thu ; trong những trường hợp này, dùng liều
cao Rocaltrol tỏ ra có hiệu quả.
Nhũ nhi và trẻ em :
Để điều trị cho nhũ nhi và trẻ em, có thể dùng
Rocaltrol dưới dạng dung dịch. Như đối với người lớn, liều tối ưu hàng ngày phải
được xác định theo nồng độ calci huyết.
Ở trẻ em có tỉ lệ lọc ở cầu thận dưới 25% so
với bình thường, nên dùng Rocaltrol với mục đích dự phòng. Nếu thể trọng < 20
kg, liều Rocatrol là : 0,01-0,03 mg/kg
thể trọng/ngày ; nếu thể trọng > 20 kg : 0,25
mg/ngày.
Để điều trị còi xương có nguồn gốc do thận,
liều khởi đầu được khuyến cáo trong 2 năm tuổi đầu là 0,01-0,1
mg/kg thể
trọng, không được vượt quá 2
mg/ngày.
Trường hợp còi xương không đáp ứng với vitamine
D, có thể cần dùng đến liều cao hơn, được xác định tùy theo nguyên nhân gây
bệnh.
QUÁ LIỀU
Điều trị tăng calci huyết không có triệu
chứng : xem trong mục "Các hướng dẫn đặc biệt về liều lượng".
Calcitriol là một chất chuyển hóa của vitamine
D, tất cả các trường hợp quá liều Rocaltrol sẽ cho những triệu chứng lâm sàng
tương tự như đối với quá liều vitamine D. Nếu đồng thời có uống nhiều calci và
phosphate với Rocaltrol, có thể gây các triệu chứng tương tự. Nồng độ calci cao
trong dịch thẩm tách phản ảnh có tăng calci huyết.
Dấu hiệu ngộ độc cấp tính vitamine D :
chán ăn, nhức đầu, buồn nôn, táo bón.
Dấu hiệu ngộ độc mãn tính : loạn dưỡng
(yếu ớt, sụt cân), rối loạn các giác quan, có thể bị sốt kèm theo khát, đa niệu,
mất nước, vô cảm, ngưng tăng trưởng và nhiễm trùng đường tiểu. Ngộ độc mãn tính
sẽ gây tăng calci huyết thứ phát với vôi hóa vỏ thận, cơ tim, phổi và tụy tạng.
Các biện pháp điều trị quá liều do uống nhầm
bao gồm : rửa dạ dày lập tức hoặc gây nôn để tránh hấp thu thuốc vào máu. Dùng
dầu paraffine để làm tăng đào thải thuốc qua phân. Tiến hành kiểm tra nhiều lần
calci huyết. Nếu calci huyết vẫn còn cao, có thể dùng phosphate và corticoide,
và dùng các biện pháp tăng bài niệu thích hợp.