Streptokinase, chất làm tan huyết khối, là một
protéine rất tinh khiết, chiết từ dịch lọc canh cấy liên cầu tán huyết bêta
thuộc nhóm C.
Sau khi bị trung hòa bởi các kháng thể lưu hành
nếu có, streptokinase hoạt hóa hệ thống sinh lý làm tan fibrine : một phân tử
streptokinase và một phân tử plasminogène kết hợp để thành lập phức hợp hoạt hóa
plasminogène ; chất này tác dụng lên một số lớn phân tử plasminogène, biến đổi
chúng thành plasmine. Tác dụng ly giải protéine của plasmine không chỉ thực hiện
trên fibrine của huyết khối mà luôn cả trên fibrinogène lưu hành. Một chất hoạt
hóa khác của plasminogen là phức hợp streptokinase-plasmin.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Nhồi máu cơ tim mới : giảm tỉ lệ tử vong ở
những bệnh nhân được điều trị sớm, nhất là trong 6 giờ đầu.
Hiệu quả càng cao khi điều trị càng sớm (đặc
biệt khi Streptase được dùng ngay giờ đầu).
Hoạt tính có vẻ như vẫn còn giữa giờ thứ 6 và
giờ thứ 12.
- Thuyên tắc phổi.
- Huyết khối tĩnh mạch sâu.
- Thông các mạch nối động-tĩnh mạch ở bệnh nhân
chạy thận nhân tạo và được đặt ống thông lưu.
- Huyết khối van tim nhân tạo.
- Tắc động mạch võng mạc trung ương hoặc tĩnh
mạch võng mạc.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chuyên biệt :
Tuyệt đối vĩnh viễn :
- dị ứng hay không dung nạp streptokinase.
Lâm sàng :
Tuyệt đối vĩnh viễn :
- đang xuất huyết hay mới bị xuất huyết.
- tiền căn tai biến mạch máu não dù đã lâu :
phải khám thần kinh trước khi làm tan huyết khối.
- tiền căn mổ sọ gần đây, chấn thương ở đầu gần
đây.
- tiền căn dị dạng mạch máu não hay xuất huyết
màng não không rõ nguyên do.
- rối loạn đông máu bẩm sinh hay mắc phải,
không kiểm soát được.
- cao huyết áp nặng không kiểm soát được.
- viêm tụy cấp.
Trong 2 tháng :
- mới gắn van nhân tạo bằng dacron.
Trong 1 tháng :
- can thiệp bằng phẫu thuật, tuy nhiên, trong
một số trường hợp đặc biệt vết mổ có thể đè ép được hoàn toàn, có thể rút ngắn
thời hạn này.
Trong 15 ngày :
- chọc dò-sinh thiết gan hay thận.
- chọc dò động mạch (động mạch không đè ép trực
tiếp được-chụp X quang động mạch chủ qua đường lưng).
Tương đối :
- trên 70 tuổi.
- loét không xuất huyết, hang phổi, viêm phế
quản nặng.
Sinh học :
Chống chỉ định trong trường hợp tỉ lệ
prothrombine giảm, hoặc thời gian Howell hay céphaline-kaolin kéo dài, trừ
trường hợp trước đó có dùng thuốc kháng vitamine K hay héparine. Khi đó, nên đợi
vài giờ hay có thể tiến hành điều trị đồng thời bù trừ hay trung hòa sự thiếu
hụt.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Mỗi khi sử dụng, nên cân nhắc kỹ giữa nguy cơ
của việc điều trị và những lợi điểm mong muốn, đặc biệt khi có cùng một lúc.
- xoa bóp tim hay chấn thương mới đây.
- bệnh van 2 lá với rung nhĩ.
- cao huyết áp đã được điều trị.
- suy gan nặng hoặc suy thận nặng.
- sỏi niệu.
- bướu có nguy cơ xuất huyết.
- hẹp động mạch cảnh với nguy cơ thuyên tắc.
- viêm nội tâm mạc do vi trùng hay bệnh nhiễm
trùng nặng.
- tiểu đường với biến chứng võng mạc nặng.
Streptase có thể mất hiệu lực nếu được dùng kể
từ sau 5 ngày sau lần tiêm Streptase hay streptokinase đầu tiên vì có thể có
hiện tượng kháng thuốc do kháng thể kháng streptokinase, đặc biệt sau 5 ngày đến
12 tháng, hay sau nhiễm trùng liên cầu khuẩn mới đây. Thêm nữa, nồng độ kháng
thể kháng streptokinase cao có thể làm tăng nguy cơ dị ứng khi dùng thuốc trở
lại.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chỉ được dùng thuốc nếu có sự theo dõi chặt
chẽ, có phương tiện hồi sức. Trường hợp trước đó được điều trị với thuốc kháng
vitamine K hay héparine : xem Chống chỉ định sinh học.
Khi đang điều trị, tuyệt đối chống chỉ định :
tiêm bắp và chọc động mạch (trong những vùng mà động mạch không thể đè ép được).
Theo dõi điều trị :
Đo thời gian thrombine máu và (hay) nồng độ
fibrinogène có thể cho phép kiểm tra, ngay từ cuối giờ thứ nhất, hiệu quả sinh
học của việc điều trị. Nồng độ fibrinogène lúc đó có thể gần 0 g/l. Thường vào
khoảng giữa giờ thứ 6 và giờ thứ 9, nồng độ fibrinogène lên trở lại trên 1 g/l
thời điểm có thể chuyển sang điều trị tiếp theo bằng héparine.
Điều trị tiếp theo :
Có thể dự kiến nhiều phác đồ khác nhau để tránh
tạo huyết khối trở lại trong các mạch vành đã được thông và tránh sự tái phát
hoặc lan rộng của nhồi máu.
- Streptokinase-héparine :
Cách điều trị tiếp theo cổ điển với héparine
được tiến hành vào giờ thứ 6 đến thứ 9 (xem Theo dõi điều trị) sau khi ngưng
tiêm truyền streptokinase, lúc đầu với liều vừa (75 đến 150 mg/24 giờ) rồi đến
liều hữu hiệu [tùy thuộc thời gian Howell hay céphaline-kaolin (gấp 2 lần trị số
chứng)] khi fibrinogène đã vượt quá 1 g/l.
Sau 4 đến 8 ngày dùng héparine có thể dùng tiếp
thuốc kháng vitamine K.
- Streptokinase-aspirine :
Trong một nghiên cứu có kiểm chứng, phối hợp
streptokinase tiêm tĩnh mạch và aspirine uống cho thấy có hiệu quả, với aspirine
(160 mg/ngày) dùng càng sớm càng tốt. Tỉ lệ tử vong có giảm vào thời điểm 1
tháng và một năm.
-Streptokinase - héparine - aspirine :
Có thể phối hợp như trên và có vẻ không làm
tăng nguy cơ xuất huyết.
Ngưng điều trị tức khắc và (hay) điều chỉnh
tình trạng ly giải fibrine trong trường hợp bị biến chứng xuất huyết.
Có thể ức chế sự ly giải fibrine bằng cách tiêm
acide epsilone-aminocaproique (4 g, tiêm tĩnh mạch, sau đó có thể truyền tĩnh
mạch 1 g/giờ) và/hay thuốc ức chế protéase (trung bình 50.000 đơn vị U.I.K/giờ,
đường tĩnh mạch) cho đến khi ức chế hoàn toàn các men ly giải fibrine.
Trước khi mổ cấp cứu cho bệnh nhân đang được
điều trị với streptokinase, đều phải dùng thuốc ức chế sự ly giải fibrine. Ngoài
ra, trước khi mổ cũng phải điều chỉnh tình trạng hạ fibrinogène máu và các rối
loạn đông máu có thể có bằng cách truyền fibrinogène, huyết tương tươi, hoặc máu
tươi toàn phần.
LÚC CÓ THAI
Lâm sàng :
Khi bắt đầu điều trị có thể có phản ứng không
dung nạp tạm thời. Đó là sự phối hợp theo nhiều kiểu khác nhau của :
- hạ huyết áp và (hay) nhịp tim nhanh hoặc chậm
- đau thắt ngực
-sốt, lạnh run, đau cơ, suy nhược
-buồn nôn hay nôn
-nổi mề đay hay đỏ da
Cần phân biệt với các phản ứng dị ứng, hiếm gặp
hơn, như sốc phản vệ sớm hay bệnh huyết thanh.
Ở giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim, sau khi
thông mạch vành, đồng thời với giảm đau, thường thấy một cơn loạn nhịp hồi phục
tự nhiên (loạn nhịp do tưới máu trở lại).
Xuất huyết nhẹ không đáng kể (chảy máu ở điểm
tiêm), hiếm gặp hơn là xuất huyết nội tạng hay thanh mạc (xem Thận trọng lúc
dùng).
Cũng đã xảy ra biến chứng thuyên tắc phía dưới
do sự di chuyển và (hay) vỡ huyết khối hay một mảng xơ cứng.
Sinh học :
Tăng bạch cầu đa nhân trung tính có thể kèm
theo phản ứng không dung nạp sớm. Hiếm gặp trường hợp tăng tế bào lympho tương
đối hay tăng tương bào.
Rất hiếm, có sự tăng vừa phải hoạt động của các
men gan.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Chỉ được dùng thuốc tại bệnh viện dưới sự theo
dõi chặt chẽ và có phương tiện hồi sức.
Bột đông khô được pha trong những dung dịch
natri clorid hay glucose đẳng trương.
Nhồi máu cơ tim cấp :
Truyền tĩnh mạch 1.500.000 UI trong 30-60 phút
trong 100 ml dung dịch muối sinh lý hoặc glucose 5%.
Dùng streptokinase càng sớm càng tốt sau khi
bắt đầu có triệu chứng.
Thuyên tắc phổi cấp lan rộng với huyết động
học bất ổn :
Liều tấn công : truyền tĩnh mạch 250.000 UI
trong 100-300 ml dung dịch muối sinh lý hay glucose 5% trong 30 phút.
Liều duy trì : 100.000 UI/giờ trong 24 giờ, bắt
đầu ngay sau liều tấn công.
Tắc động mạch trong khi đang điều trị nội
mạch :
Tiêm vào động mạch chạm vào cục huyết khối.
Khoảng 5.000 UI/giờ trong 12-48 giờ.
Thuyên tắc van tim giả :
Liều tấn công : truyền tĩnh mạch 250.000 UI
trong 100-300 ml dung dịch muối sinh lý hay glucose 5% trong 30 phút.
Liều duy trì : 100.000 UI/giờ, bắt đầu ngay sau
liều tấn công. Liều duy trì được tiếp tục tùy theo kết quả.
Thông mạch nối động-tĩnh mạch ở người lọc
máu :
5.000-10.000 UI/20 phút.
Có thể lặp lại tối đa 5 lần.
QUÁ LIỀU