Pentoxifylline phục hồi khả năng thay đổi hình
dạng cho hồng cầu đã bị suy giảm trong viêm động mạch, hỗ trợ cho chúng đi qua
các mao mạch có đường kính nhỏ và do đó làm tăng sự tưới máu cho những mô bị
thiếu máu.
Ở người, dưới ảnh hưởng của pentoxifylline, khả
năng thay đổi hình dạng của hồng cầu tăng, có thể đo trực tiếp bằng cách lọc qua
những lỗ có đường kính nhỏ hơn đường kính của hồng cầu hay gián tiếp bằng cách
khảo sát độ nhớt của máu toàn phần. Điều này đã được nghiên cứu ở người khoẻ
mạnh và ở bệnh nhân bị suy tuần hoàn ngoại biên.
Như vậy, pentoxifylline chống lại sự giảm khả
năng thay đổi hình dạng của hồng cầu, một rối loạn sinh lý bệnh mà vai trò đã
được chứng minh trong nhiều quá trình bệnh lý (đặc biệt là trong các bệnh động
mạch chi dưới).
Kết quả là hồng cầu có đường kính từ 7 đến 8
microns có thể đi qua dễ dàng các mao mạch có đường kính từ 3 đến 5 microns. Vi
tuần hoàn được cải thiện mà không làm tăng lưu lượng tại các vùng bình thường,
không lợi cho các vùng bị thiếu máu.
- Pentoxifylline làm giảm nồng độ fibrinogène
trong máu nhưng vẫn còn trong giới hạn bình thường ; theo sự hiểu biết cho đến
nay, không thể gán một ý nghĩa lâm sàng cho hiện tượng giảm không đáng kể này.
- Thêm nữa, in vitro, pentoxifylline chống lại
tác dụng của Interleukine 1 và Tumor Necrosis Factor trên bạch cầu đa nhân trung
tính, gồm làm chậm sự di chuyển, tăng độ gắn dính và phóng thích quá mức ion
superoxyd và hydrogen peroxyd. Lợi ích lâm sàng của các kết quả thí nghiệm này
phải được xác định bởi những công trình bổ sung.
- Pentoxifylline cũng có tác dụng làm dãn cơ
trơn thành mạch máu.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Pentoxifylline không gắn vào các protéine huyết
tương. Nó được chuyển hóa mạnh. 7 chất chuyển hóa đã được xác định trong đó một
số có hoạt tính. Những biến đổi sinh hóa xảy ra chủ yếu trên chuỗi hexyle bên.
Thuốc được thải chủ yếu trong nước tiểu (trên
95% sau 24 giờ) và dưới dạng chuyển hóa. Thời gian bán hủy khoảng 1 giờ. Các sản
phẩm chuyển hóa có thể tích tụ trong suy thận nặng.
Ở người lớn tuổi, vận tốc thải chậm hơn là ở
người trẻ.
Torental LP 400 mg được bào chế dưới dạng viên
bao giải phóng hoạt chất chậm. Sinh khả dụng gần 100%. Nồng độ tối đa trong máu
đạt được khoảng 2 đến 3 giờ sau khi uống thuốc, 2 giờ tiếp theo nồng độ giảm còn
phân nửa và duy trì ổn định trong vòng 13 giờ sau khi uống thuốc.
Uống thuốc 2 lần mỗi ngày, vào buổi sáng và
buổi tối, đủ để duy trì hiệu lực của thuốc trong vòng 1 ngày đêm.
CHỈ ĐỊNH
- Không nên dùng cho trẻ em, phụ nữ có thai,
phụ nữ cho con bú.
- Phải theo dõi cẩn thận khi dùng cho bệnh nhân
loạn nhịp tim nặng, nhồi máu cơ tim, huyết áp thấp, suy thận, suy gan nặng, dễ
xuất huyết (đang dùng thuốc kháng đông hay có rối loạn đông máu).
- Đối với dạng tiêm : phải cẩn thận theo
dõi ở bệnh nhân đặc biệt có nguy cơ hạ huyết áp (bệnh mạch vành nặng hay hẹp
mạch máu nuôi não).
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
- Đặc biệt khi dùng liều cao hay truyền tĩnh
mạch quá nhanh, các triệu chứng sau đây có thể xảy ra : thường gặp : nóng bừng
mặt, tức bụng, đầy bụng, buồn nôn, nôn hay tiêu chảy ; thỉnh thoảng : nhịp tim
bất thường (thí dụ nhịp tim nhanh).
- Da : thỉnh thoảng có ngứa, đỏ da và nổi mề
đay.
- Hệ thần kinh trung ương : thỉnh thoảng có
chóng mặt, nhức đầu, bứt rứt và rối loạn giấc ngủ.
- Phản vệ : trong vài trường hợp riêng lẻ, phản
ứng phản vệ hay giống phản vệ thí dụ như phù mạch - thần kinh, có thắt phế quản
và đôi khi sốc. Ngay khi vừa xuất hiện một triệu chứng phản vệ hay giống phản
vệ, phải lập tức ngưng ngay pentoxifylline và báo bác sĩ.
- Gan : trong vài trường hợp riêng lẻ, ứ mật
trong gan và tăng men transaminase.
- Tim mạch : hiếm, đau thắt ngực, hạ huyết áp
và đặc biệt ở bệnh nhân dễ xuất huyết, có thể xuất huyết.
- Huyết học : trong vài trường hợp riêng lẻ,
giảm tiểu cầu.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều và đường dùng tùy thuộc loại và mức độ
nặng của rối loạn tuần hoàn và dung nạp của bệnh nhân.
Thuốc viên :
Liều thông thường là 400 mg x 2-3 lần/ngày hay
600 mg x 2 lần/ngày. Nuốt nguyên viên thuốc giữa hoặc ngay sau bữa ăn với nửa ly
nước.
Thuốc tiêm :
- Pha thuốc vào trong một dung dịch thích hợp
để truyền tĩnh mạch. Truyền chậm 100 mg pentoxifylline trong ít nhất 60 phút.
- Bệnh tắc động mạch ngoại vi giai đoạn II (đau
cách hồi) và rối loạn tuần hoàn mắt : 100-600 mg x truyền tĩnh mạch 1-2
lần/ngày. Nếu dùng phối hợp với thuốc viên pentoxifylline, tổng liều cho cả hai
dạng thuốc là 1200 mg/ngày.
- Bệnh tắc động mạch ngoại vi giai đoạn III và
IV : 1200 mg/ngày hoặc truyền liên tục 24 giờ hoặc chia ra 2 lần mỗi lần 600 mg
truyền trong ít nhất 6 giờ.
- Bệnh nhân suy giảm chức năng thận (độ thanh
thải creatinine <= 30 ml/phút) : giảm 30-50% liều.
- Bệnh nhân suy gan nặng : giảm liều tùy theo
dung nạp của bệnh nhân.
- Bệnh nhân có huyết áp thấp hay dễ bị hạ huyết
áp (bệnh mạch vành nặng, hẹp mạch máu nuôi não) : khởi đầu bằng liều thấp và
tăng dần dần.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
- Các triệu chứng đầu tiên của quá liều cấp
pentoxifylline là buồn nôn, chóng mặt, tim đập nhanh hay hạ huyết áp.
- Sau đó có thể sốt, kích động, nóng bừng mặt,
hôn mê, mất phản xạ, co giật và ói nâu (xuất huyết tiêu hóa).
Điều trị :
Không có thuốc giải độc. Nếu mới uống thuốc,
rửa bao tử và cho than hoạt. Dùng các biện pháp trị liệu tổng quát và đặc hiệu
tích cực để điều trị quá liều cấp và phòng ngừa biến chứng.