Đặc tính chống loạn nhịp :
- Kéo dài pha 3 của đường điện thế hoạt động do
làm giảm dòng ion kali (nhóm III theo phân loại Vaughan Williams) mà không làm
thay đổi nhịp tim.
- Giảm tính tự động nút xoang gây nhịp chậm
không đáp ứng với atropine.
- Ức chế alpha và bêta adrénergique theo kiểu
không cạnh tranh.
- Làm chậm dẫn truyền xoang nhĩ, nhĩ và mô nút.
- Không làm thay đổi dẫn truyền nội thất.
- Kéo dài thời kỳ trơ và làm giảm tính kích ứng
của cơ tim ở mô nhĩ, mô nút và mô thất.
- Làm chậm dẫn truyền và kéo dài thời gian trơ
của đường dẫn truyền phụ từ nhĩ xuống thất.
Đặc tính chống cơn đau thắt ngực :
- Giảm kháng lực ngoại biên ở mức trung bình,
giảm nhịp tim do đó làm giảm nhu cầu tiêu thụ oxy.
- Đặc tính đối vận với alpha và bêta
adrénergique theo kiểu không cạnh tranh.
- Tăng cung lượng tim do tác dụng trực tiếp lên
cơ trơn các động mạch của cơ tim.
- Duy trì cung lượng tim do giảm áp lực động
mạch chủ và giảm kháng lực ngoại biên.
Các đặc tính khác :
- Không có tác dụng inotrope âm tính, chỉ làm
giảm co bóp cơ tim khi tiêm trực tiếp tĩnh mạch.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Chống chỉ định phối hợp :
- Các thuốc có khả năng gây xoắn đỉnh : một số
các thuốc chống loạn nhịp khác (bépridil, quinidine, sotalol), thuốc không có
tác dụng chống loạn nhịp (vincamine, sultopride, érythromycine tiêm tĩnh
mạch...) vì làm tăng nguy cơ xoắn đỉnh.
Không nên phối hợp :
- Các thuốc ức chế bêta, vài thuốc ức chế calci
nhất định (vérapamil, diltiazem) vì có thể gây rối loạn tính tự động (nhịp chậm
trầm trọng) và rối loạn dẫn truyền.
- Các thuốc nhuận trường kích thích vì gây hạ
kali, qua đó làm tăng nguy cơ gây xoắn đỉnh.
Thận trọng khi phối hợp :
- Các thuốc gây giảm kali máu : các thuốc lợi
tiểu đơn thuần hay phối hợp gây hạ kali máu, corticoide dùng đường toàn thân,
amphotéricine B tiêm tĩnh mạch.
- Các thuốc kháng đông uống do tăng nguy cơ
chảy máu.
- Digitalis : do thuốc có thể gây rối loạn dẫn
truyền nhĩ thất và rối loạn tính tự động ; với digoxine, thuốc có thể làm tăng
nồng độ digoxine trong máu. Cần theo dõi lâm sàng, điện tâm đồ, và các chỉ số
sinh học khi sử dụng phối hợp ; có thể cần phải điều chỉnh liều digitalis.
- Phénytoine : có thể làm tăng nồng độ
phénytoine với các dấu hiệu của quá liều, đặc biệt là các dấu hiệu về thần kinh.
Cần theo dõi lâm sàng và giảm liều phénytoine ngay khi có các dấu hiệu quá liều.
- Gây mê toàn thân, oxy liệu pháp : có thể gây
nhịp chậm trầm trọng không đáp ứng với atropine, hạ huyết áp, rối loạn dẫn
truyền, giảm cung lượng tim. Đã có một vài trường hợp suy hô hấp nặng, đôi khi
gây tử vong ngay sau phẫu thuật. Vì thế trước khi phẫu thuật, phải báo cho bác
sĩ gây mê biết bệnh nhân đang dùng amiodarone.
- Ciclosporine : có thể làm tăng nồng độ
ciclosporine trong máu, cần điều chỉnh liều.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Tiêm tĩnh mạch :
Tại chỗ : có thể gây viêm tĩnh mạch sau khi
truyền tĩnh mạch, tác dụng này có thể tránh được bằng cách sử dụng đường truyền
tĩnh mạch trung ương.
Toàn thân :
- Nóng bừng mặt, đổ mồ hôi, buồn nôn (tiêm tĩnh
mạch).
- Hạ huyết áp, thường ở mức vừa phải và thoáng
qua. Một vài trường hợp hạ huyết áp quá mức hay trụy tim mạch đã được ghi nhận
sau khi tiêm quá liều hoặc tiêm quá nhanh.
- Nhịp tim chậm vừa phải. Trong vài trường hợp,
đặc biệt ở người lớn tuổi, nhịp tim chậm đáng kể, hiếm khi gây ngưng xoang, cần
phải ngưng điều trị.
- Gây loạn nhịp hoặc làm nặng thêm loạn nhịp đã
có trước đó ở một vài trường hợp bị ngưng tim. Với những hiểu biết hiện nay,
chưa thể phân biệt được điều này là do thuốc hay điều này có liên quan đến bệnh
lý tim cơ bản hoặc do thiếu sự điều trị. Những tác dụng phụ này ít được ghi nhận
hơn so với hầu hết các thuốc chống loạn nhịp khác và nói chung chỉ thường xảy ra
trong trường hợp tương tác với một số thuốc nhất định hoặc khi có rối loạn điện
giải (xem Tương tác thuốc).
- Tăng đơn thuần transaminase, thường ở mức vừa
phải (gấp 1,5-3 lần bình thường) lúc mới khởi đầu điều trị. Triệu chứng này
thường thoái triển một cách tự phát hoặc khi giảm liều.
- Vài trường hợp có các rối loạn cấp tính về
gan với tăng men transaminase và/hoặc vàng da, đôi khi gây tử vong. Phải ngưng
điều trị và theo dõi chặt chẽ các xét nghiệm về chức năng gan.
- Các tác dụng rất hiếm gặp khác được ghi nhận
sau khi tiêm tĩnh mạch bao gồm : sốc phản vệ, tăng áp nội sọ lành tính, co thắt
phế quản và/hoặc ngưng thở khi có suy hô hấp nặng, đặc biệt ở những bệnh nhân
hen phế quản.
Thuốc uống :
- Mắt :
Vi tích tụ giác mạc, hầu như luôn gặp, thường
giới hạn đến vùng dưới đồng tử và không cần thiết ngưng điều trị, hiếm khi có
kèm theo quầng màu khi ra sáng hoặc cảm giác chói mắt khi ra ánh sáng. Vi tích
tụ giác mạc có khả năng hồi phục sau khi ngưng điều trị.
Một vài trường hợp viêm thần kinh thị giác đã
được ghi nhận. Hiện nay, mối liên hệ với amiodarone vẫn còn chưa được xác lập
một cách chắc chắn. Nếu có giảm thị lực hoặc nhìn mờ, phải đi khám mắt ngay.
- Da :
Nhạy cảm ánh sáng : phải báo cho bệnh nhân biết
để tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời (và với các tia cực tím) trong thời gian
điều trị. Có thể có ban đỏ da trong thời gian điều trị bằng quang tuyến.
Nổi mẫn da, thường ít đặc hiệu gồm cả các
trường hợp hiếm gặp như viêm da tróc vảy đã được ghi nhận nhưng chưa được xác
nhận một cách chắn chắn về mối quan hệ với thuốc.
Các đám sắc tố da màu xám hay hơi xanh có thể
xảy ra nếu điều trị kéo dài với liều cao hàng ngày, các đám sắc tố này sẽ biến
mất chậm sau khi ngưng điều trị.
- Tuyến giáp :
Thay đổi các chỉ số sinh hóa đơn thuần mà không
có các biểu hiện lâm sàng của rối loạn chức năng tuyến giáp thì thường gặp (tăng
nồng độ T4, T3 bình thường hay giảm nhẹ). Trong những trường hợp như thế không
cần thiết phải ngưng điều trị.
Nhược giáp : chẩn đoán có được khi nồng độ TSHu
tăng lên rõ rệt. Chức năng tuyến giáp trở lại bình thường sau 1-3 tháng ngưng
điều trị. Trong những trường hợp đe dọa đến tính mạng, vẫn có thể tiếp tục điều
trị với amiodarone bằng cách sử dụng thêm L-Thyroxine. Liều L-Thyroxine sử dụng
sẽ được hướng dẫn bởi nồng độ TSH.
Cường giáp : chẩn đoán có được khi nồng độ TSHu
giảm rõ rệt. Phải ngưng điều trị amiodarone. Sự hồi phục trên lâm sàng xảy ra
sau 3-4 tuần ngưng điều trị. Những trường hợp nặng đôi khi có thể gây tử vong
cần phải được điều trị khẩn cấp. Việc điều trị này phải thay đổi theo từng bệnh
nhân : các thuốc chống tuyến giáp (có thể không phải luôn có hiệu quả), liệu
pháp corticoide, thuốc ức chế bêta...
Các dấu hiệu lâm sàng sau đây, thường nhẹ và
gợi ý đến chẩn đoán nhược giáp hay cường giáp :
- tăng cân, giảm khả năng hoạt động, nhịp tim
chậm quá mức có liên quan đến tác dụng của amiodarone trong trường hợp nhược
giáp.
- sút cân, loạn nhịp cấp, đau ngực, suy tim ứ
huyết trong trường hợp cường giáp
Bệnh nhân phải được theo dõi trong nhiều tháng
sau khi ngưng điều trị. Cần đo nồng độ TSHu trong trường hợp nghi ngờ có rối
loạn chức năng tuyến giáp.
Những bệnh nhân có nguy cơ rối loạn chức năng
tuyến giáp cao (tiền căn cá nhân hay gia đình rối loạn chức năng tuyến giáp)
phải được kiểm tra chức năng tuyến giáp đều đặn.
- Phổi :
Các trường hợp độc tính phổi (viêm phổi mẫn
cảm, viêm phế nang/mô kẽ, xơ phổi, viêm màng phổi, viêm tiểu phế quản phá hủy
toàn bộ cấu trúc phổi /Boop), đôi khi dẫn đến tử vong đã được ghi nhận.
Thực hiện việc kiểm tra X quang ở những bệnh
nhân khó thở tiến triển (lúc gắng sức) hoặc đơn thuần hoặc phối hợp với sự suy
giảm sức khỏe toàn thân khác (mệt mỏi, sụt cân, sốt).
Các rối loạn về phổi nói chung thường hồi phục
sau khi ngưng sớm việc điều trị. Có thể phải cân nhắc đến corticoide liệu pháp.
Các dấu hiệu lâm sàng thường hồi phục sau 3-4 tuần, sự cải thiện hình ảnh X
quang và chức năng phổi xảy ra chậm hơn (nhiều tháng).
Một ít trường hợp có hội chứng nguy ngập hô hấp
cấp ở người lớn, đôi khi có thể gây tử vong cũng đã được ghi nhận, hầu hết
thường xảy ra ngay sau phẫu thuật (có thể liên quan đến tương tác với nồng độ
oxy cao).
- Thần kinh :
Bệnh lý thần kinh vận động và cảm giác ngoại
biên và/hoặc bệnh lý cơ, thường không hồi phục khi ngưng thuốc.
Các biểu hiện khác : run ngoại tháp, mất đồng
vận, hiếm khi có tăng áp lực nội sọ lành tính, ác mộng.
- Gan :
Theo dõi đều đặn các xét nghiệm chức năng gan
(transaminase) trong suốt thời gian điều trị :
- Tăng men transaminase đơn thuần, thường ở mức
trung bình (1,5-3 lần bình thường) lúc mới bắt đầu điều trị, thoái triển tự
nhiên hoặc sau khi giảm liều.
- Ít trường hợp có rối loạn chức năng gan cấp
tính với tăng men transaminase và/hoặc vàng da, đôi khi gây tử vong đã được ghi
nhận. Trong những trường hợp như thế, cần phải ngưng điều trị.
- Cũng đã có những báo cáo về bệnh lý gan mạn
tính (viêm gan giả do rượu, xơ gan). Các biểu hiện lâm sàng và các thay đổi về
sinh hóa có thể ở mức tối thiểu (gan to, tăng men gan từ 1,5-5 lần bình thường),
vì thế, cần phải theo dõi đều đặn các xét nghiệm chức năng gan trong thời gian
điều trị. Các bất thường về lâm sàng và sinh học thường thoái triển sau khi
ngưng điều trị mặc dù đôi khi cũng có trường hợp gây tử vong.
- Tim mạch :
Nhịp tim chậm, thường ở mức trung bình và liên
quan đến liều. Trong một số trường hợp (rối loạn chức năng nút xoang, người lớn
tuổi), cũng đã ghi nhận trường hợp nhịp chậm trầm trọng hoặc hiếm hơn là ngưng
xoang
Hiếm có các trường hợp rối loạn dẫn truyền
(bloc xoang nhĩ, bloc nhĩ thất ở các mức độ khác nhau).
Gây ra một loạn nhịp mới hoặc làm nặng thêm
loạn nhịp đã có trước đó ở một vài trường hợp bị ngưng tim. Với những hiểu biết
hiện nay, chưa thể phân biệt được điều này là do thuốc hay điều này có liên quan
đến bệnh lý tim cơ bản hoặc do thiếu sự điều trị. Những tác dụng phụ này ít được
ghi nhận hơn so với hầu hết các thuốc chống loạn nhịp khác và nói chung chỉ
thường xảy ra trong trường hợp tương tác với một số thuốc nhất định hoặc khi có
rối loạn điện giải (xem Tương tác thuốc).
- Các tác dụng phụ khác :
Các rối loạn tiêu hóa lành tính (buồn nôn, nôn,
rối loạn tiêu hóa) thường xảy ra trong giai đoạn liều tấn công và giảm khi giảm
liều.
Hói đầu.
Ít trường hợp viêm mào tinh đã được báo cáo
nhưng chưa xác định được mối liên quan với thuốc.
Rất ít trường hợp có các biểu hiện lâm sàng
khác nhau gợi ý đến phản ứng tăng mẫn cảm: viêm mạch máu, bệnh lý thận có liên
quan với sự tăng nồng độ creatinine, xuất huyết giảm tiểu cầu.
Rất hiếm trường hợp thiếu máu huyết tán hoặc
thiếu máu bất sản được ghi nhận.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG