Các phản ứng quá mẫn cấp tính trầm trọng (như
nổi mề đay, phù mạch, co thắt phế quản, phản vệ) với Intron A rất hiếm gặp trong
quá trình trị liệu với Intron A. Nếu có biểu hiện phản ứng như thế thì phải
ngưng thuốc và áp dụng các biện pháp thích hợp ngay lập tức. Chứng nổi ban
thoáng qua không cần thiết phải ngưng trị liệu.
Nên cẩn thận khi dùng Intron A cho bệnh nhân
mắc những chứng bệnh làm suy nhược cơ thể như có tiền sử bệnh phổi (như bệnh
phổi tắc nghẽn mãn tính) hay tiểu đường có khuynh hướng nhiễm acide-cétone. Cũng
nên cẩn thận khi dùng cho bệnh nhân có rối loạn đông máu (như chứng viêm tĩnh
mạch huyết khối, nghẽn mạch phổi) hay suy tủy trầm trọng.
Sử dụng thuốc tiêm Intron A phối hợp với các
tác nhân hóa trị liệu khác có thể làm gia tăng nguy cơ ngộ độc (về mức độ và
thời gian), có thể gây tử vong hay đe dọa tính mạng do tác động của thuốc dùng
đồng thời. Các tác dụng ngoại ý thường thấy nhất có khả năng gây tử vong hay đe
dọa đến tính mạng bao gồm viêm niêm mạc, tiêu chảy, giảm bạch cầu trung tính,
suy thận và rối loạn chất điện giải. Do nguy cơ gia tăng độc tính, cần điều
chỉnh liều cẩn thận đối với Intron A và cả các tác nhân hóa trị liệu dùng đồng
thời.
Vì sốt có thể gặp trong hội chứng giả cúm khi
điều trị bằng Interferon, ta nên loại trừ các nguyên nhân gây sốt dai dẳng khác.
Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân viêm gan
mạn có suy gan mất bù, cho bệnh nhân viêm gan tự miễn hay có tiền sử bệnh tự
miễn hay những người đã được ức chế miễn dịch để ghép các cơ quan bởi vì Intron
A có thể làm bệnh gan trầm trọng hơn trên những bệnh nhân này.
Nhiễm độc gan dẫn đến tử vong rất hiếm gặp. Do
đó, nếu bệnh nhân có các bất thường chức năng gan trong quá trình điều trị với
Intron A nên được theo dõi chặt chẽ và ngưng thuốc nếu các triệu chứng tiến
triển nặng.
Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân suy gan
mất bù. Bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn với bằng chứng suy giảm chức năng tổng
hợp của gan (như giảm albumine hay kéo dài thời gian prothrombine), nếu được
điều trị bằng Intron A có thể tăng nguy cơ mất bù lâm sàng nếu có sự dao động
của aminotransférase trong quá trình điều trị với Intron A (xem phần Xét
nghiệm). Nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích trị liệu khi chỉ định Intron A cho
những bệnh nhân này.
Nên duy trì bổ sung đầy đủ nước cho bệnh nhân
điều trị với Intron A vì chứng hạ huyết áp do tình trạng mất nước đã được quan
sát thấy ở một số bệnh nhân. Việc bù nước có thể rất thiết yếu.
Bệnh nhân có tiền sử suy tim sung huyết, nhồi
máu cơ tim và/hoặc có tiền sử hay đang bị loạn nhịp tim, nếu cần phải điều trị
với Intron A, nên được theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân có các bất thường trước đó
về tim và/hoặc đang trong giai đoạn ung thư tiến triển, nên làm điện tâm đồ
trước khi dùng thuốc cũng như trong quá trình điều trị. Chứng loạn nhịp tim (chủ
yếu là loạn nhịp trên thất) thường đáp ứng với các điều trị thông thường nhưng
có thể đòi hỏi phải ngưng dùng Intron A.
Các bệnh thâm nhiễm phổi, viêm phổi bao gồm cả
các bệnh có thể gây tử vong rất hiếm gặp trên bệnh nhân được điều trị với
Interferon alfa, trong đó bao gồm cả bệnh nhân điều trị bằng Intron A. Bệnh căn
học vẫn chưa được xác định. Nếu bệnh nhân bị sốt, ho, khó thở hay các triệu
chứng hô hấp khác, nên kiểm tra bằng X quang. Nếu X quang phổi cho thấy có thâm
nhiễm hay nếu có bằng chứng suy chức năng phổi, bệnh nhân nên được theo dõi cẩn
thận và ngưng thuốc nếu có thể. Trong khi ảnh hưởng này được báo cáo xảy ra
thường xuyên hơn với bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn C/NANB được điều trị với
Interferon alfa, nó cũng được báo cáo xảy ra trên những bệnh nhân mắc các bệnh
ung thư được điều trị với Interferon. Hơn nữa, các triệu chứng này đã được báo
cáo xuất hiện thường hơn khi Interferon alfa được dùng đồng thời với shosaikoto,
một thảo dược có nguồn gốc từ Trung quốc.
Bệnh nhân đã mắc bệnh tâm thần trước đó, đặc
biệt là chứng trầm cảm hay tiền sử bệnh tâm thần nặng không nên điều trị bằng
Intron A.
Nếu có các triệu chứng trầm trọng trên hệ thần
kinh trung ương, đặc biệt là chứng trầm cảm, nên ngưng điều trị Intron A. Các
tác động trên hệ thần kinh trung ương được biểu hiện với chứng trầm cảm, lú lẫn
và những thay đổi tình trạng tâm thần đã được quan sát thấy trên một vài bệnh
nhân dùng Intron A và ý định tự tử cũng có thể xảy ra tuy nhiên rất hiếm. Các
tác dụng ngoại ý này đã xảy ra trên bệnh nhân dùng Intron A với liều khuyến cáo
cũng như với liều cao hơn. Vài bệnh nhân có thể hôn mê, nhất là những người già
và điều trị liều cao. Những tác dụng này nói chung thường là có hồi phục, ở một
vài bệnh nhân cần phải có đến 3 tuần để hồi phục hoàn toàn. Rất hiếm khi xuất
hiện cơn động kinh khi sử dụng liều cao Intron A.
Chứng xuất huyết võng mạc, tắc nghẽn động mạch
hay tĩnh mạch với những điểm như nốt bông rất hiếm gặp trên bệnh nhân được điều
trị với Interferon alfa, trong đó có thuốc tiêm Intron A (Interferon alfa-2b tái
tổ hợp). Chưa giải thích được nguyên nhân bệnh căn của những hiện tượng này. Các
tác dụng này có vẻ như xuất hiện sau vài tháng dùng thuốc, nhưng cũng được báo
cáo xảy ra trong những khoảng thời gian điều trị ngắn hơn. Chứng tiểu đường hay
cao huyết áp cũng xuất hiện trên một vài bệnh nhân. Bệnh nhân có những thay đổi
thị lực và thị trường hay những triệu chứng ở mắt trong quá trình điều trị với
Intron A nên được khám mắt.
Các dấu hiệu trên võng mạc gây bởi Intron A nên
được phân biệt với các tai biến trên mắt trong các bệnh võng mạc do tiểu đường
hay do cao huyết áp, do đó nên khám mắt cho bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hay
cao huyết áp trước khi điều trị với Intron A.
Khi bệnh nhân có rối loạn chức năng giáp, chỉ
có thể bắt đầu hay tiếp tục điều trị với Intron A khi có thể duy trì nồng độ TSH
ở mức độ bình thường bằng cách dùng thuốc. Việc ngưng điều trị với Intron A
không làm hồi phục lại rối loạn chức năng giáp xảy ra trong quá trình trị liệu.
Do có các báo cáo về sự gia tăng bệnh vẩy nến
đã có sẵn trước đó, chỉ nên dùng Intron A cho bệnh nhân bị vẩy nến khi lợi ích
trị liệu lớn hơn nguy cơ có thể gây ra.
Trên bệnh nhân bị sarcome Kaposi do AIDS, không
nên dùng Intron A khi có sự hiện diện của các bệnh nội tạng đang tiến triển
nhanh chóng. Bệnh nhân dùng thuốc đồng thời với zidovudine gây ra giảm bạch cầu
trung tính với tỉ lệ cao hơn so với khi chỉ dùng zidovudine đơn thuần. Tác dụng
của Intron A khi kết hợp với những thuốc khác trong điều trị bệnh liên quan tới
AIDS chưa rõ ràng.
Các xét nghiệm tác nhân trung hòa Interferon
được thực hiện trên những mẫu huyết thanh của bệnh nhân được tiêm Intron A trong
một vài thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Tỉ lệ trên lâm sàng của hoạt động
trung hòa phát triển trên bệnh nhân ung thư được điều trị toàn thân là vào
khoảng 3%. Bệnh nhân viêm gan siêu vi NANB/C mạn tính được điều trị với liều 3
MIU ba lần mỗi tuần trong 6 tháng có tỉ lệ là 15% mà không có tác động nào lên
kết quả lâm sàng. Tác động trung hòa của Interferon trong huyết thanh được tìm
thấy trong khoảng 1% bệnh nhân tiêm Intron A vào trong sang thương để điều trị
bệnh mồng gà. Nồng độ của yếu tố trung hòa trong hầu hết các trường hợp đều thấp
và biểu hiện lâm sàng của hoạt động trung hòa này cũng không rõ. Sự phát triển
của những kháng thể trung hòa chưa được chứng minh trên bệnh nhân được tiêm
Intron A vào trong sang thương trong điều trị carcinome tế bào nền hay trên bệnh
nhân được tiêm Intron A trong bàng quang trong điều trị ung thư bàng quang.
Xét nghiệm : các xét nghiệm huyết học tiêu
chuẩn và sinh hóa của máu (công thức máu, số lượng tiểu cầu, chất điện giải, các
men gan, bao gồm ALT huyết thanh, bilirubine và albumine huyết thanh, protéine
huyết thanh và créatinine huyết thanh) nên được thực hiện trên tất cả các bệnh
nhân trước khi điều trị và có định kỳ trong quá trình điều trị với thuốc tiêm
Intron A. Nồng độ TSH phải được giữ trong các giới hạn bình thường trước khi bắt
đầu điều trị với Intron A. Bệnh nhân có những triệu chứng cho thấy có rối loạn
chức năng giáp trong quá trình điều trị với Intron A nên được thăm khám chức
năng giáp. Trên bệnh nhân được điều trị viêm gan, phác đồ xét nghiệm khuyến cáo
là vào tuần thứ 1, 2, 4, 8, 12, 16 và mỗi tháng sau đó, trong suốt quá trình
điều trị. Nếu ALT tăng (gấp hai bình thường hay nhiều hơn) trong quá trình điều
trị với Intron A, có thể tiếp tục dùng thuốc, trừ phi quan sát được những triệu
chứng và dấu hiệu của suy gan. Khi ALT tăng, nên thực hiện các xét nghiệm chức
năng gan như thời gian prothombine, ALT, phosphatase kiềm, nồng độ albumine và
bilirubine cách khoảng mỗi 2 tuần.
Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản : Interferon có
thể làm giảm khả năng sinh sản. Trong những nghiên cứu về sử dụng Interferon
trên động vật linh trưởng, người ta thấy có những bất thường trong chu kỳ kinh
nguyệt. Sự suy giảm nồng độ estradiol và progestérone đã được báo cáo xuất hiện
ở phụ nữ được điều trị với Interferon bạch cầu của người. Do đó, phụ nữ trong
tuổi sinh đẻ không nên dùng Intron A trừ khi áp dụng biện pháp tránh thai hữu
hiệu trong thời gian điều trị.
Thận trọng khi dùng Intron A cho nam giới trong
tuổi sinh đẻ.
Dùng thuốc cho trẻ em : các liều lên đến 10
MIU/m2 đã được dùng một cách an toàn khi dùng cho trẻ em bị viêm gan
siêu vi B mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, hiệu lực của liệu pháp chưa được chứng
minh. Nói chung, kinh nghiệm điều trị cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vẫn còn giới
hạn và trong những trường hợp này, nên cân nhắc giữa lợi ích trị liệu với nguy
cơ có thể xảy ra.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Dùng toàn thân :
Các phản ứng phụ được thấy nhiều nhất là sốt,
mệt mỏi, nhức đầu và đau cơ. Các dấu hiệu sốt và mệt mỏi có liên quan đến liều
dùng và được hồi phục sau 72 giờ tạm ngưng thuốc hoặc ngưng trị liệu.
Các phản ứng phụ thường gặp là chuột rút, chán
ăn và buồn nôn.
Các phản ứng phụ ít gặp hơn là ói mửa, tiêu
chảy, đau khớp, suy nhược, buồn ngủ, chóng mặt, rụng lông tóc, khô miệng, các
triệu chứng giống như cúm (không đặc hiệu), đau lưng, trầm cảm, khó ở, đau nhức,
vã mồ hôi , thay đổi vị giác, kích thích, mất ngủ, lẫn lộn, giảm tập trung và hạ
huyết áp.
Các phản ứng phụ hiếm gặp là đau bụng, nổi ban,
lo lắng, tai biến tại nơi tiêm, dị cảm, herpès simplex, ngứa, đau mắt, lo lắng,
chảy máu cam, ho, viêm họng, thâm nhiễm phổi, viêm phổi, giảm sáng suốt, sụt
cân, phù mặt, khó thở, khó tiêu, tim đập nhanh, cao huyết áp, tăng cảm giác ngon
miệng, giảm tình dục, giảm cảm giác, thay đổi vị giác, phân lỏng, chảy máu lợi,
bệnh thần kinh và bệnh đa dây thần kinh. Chứng cường hay nhược giáp cũng rất
hiếm gặp. Nhiễm độc gan, bao gồm khả năng gây tử vong rất hiếm gặp (xem thêm mục
Chú ý đề phòng).
Các phản ứng phụ về tim mạch, đặc biệt là loạn
nhịp, thường có liên quan đến bệnh của hệ tim mạch đã có từ trước và tiền sử của
việc điều trị độc tính trên tim. Bệnh cơ tim thoáng qua và có hồi phục rất hiếm
gặp ở những bệnh nhân không có bệnh tim trước đó.
Những bất thường về xét nghiệm thường xảy ra
khi dùng liều trên 10 MIU/ngày bao gồm giảm bạch cầu hạt và bạch cầu ; giảm nồng
độ hémoglobine và số lượng tiểu cầu ; tăng phosphatase kiềm, lactate
déhydrogénase (LDH), créatinine huyết thanh, urea nitrogène huyết thanh và nồng
độ TSH. Sự gia tăng nồng độ ALT/AST (SGOT, SGPT) trong huyết thanh đã được ghi
nhận như một bất thường trên những đối tượng không viêm gan cũng như trên một
vài bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn tính xảy ra cùng lúc với sự thải loại DNAp
của virus.
Tiêm vào trong sang thương :
Hầu hết các tác dụng ngoại ý là nhẹ cho đến
trung bình, thoáng qua và có thể hồi phục nhanh chóng. Mức độ của các tác dụng
ngoại ý được báo cáo xảy ra trên những bệnh nhân được điều trị bệnh mồng gà, cho
thấy có gia tăng tương ứng với số lượng sang thương điều trị và do đó, phụ thuộc
vào liều lượng.
Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất là hội chứng
giống như bệnh cúm, (ớn lạnh, sốt, nhức đầu, đau cơ và mệt mỏi). Các tác dụng
ngoại ý thông thường khác được báo cáo bao gồm buồn nôn, mệt mỏi, chóng mặt, đau
khớp, đau lưng và phản ứng tại chỗ (bỏng rát, ngứa, đau và chảy máu nơi tiêm).
Trên bệnh nhân được điều trị bệnh mồng gà, phản ứng tại nơi tiêm cho thấy phụ
thuộc vào diển tiến của sang thương hơn là vào việc điều trị với Intron A.
Các tác dụng ngoại ý hiếm gặp bao gồm tiêu
chảy, buồn ngủ, trầm cảm, đau, khó tiêu, vã mồ hôi, triệu chứng dạng cúm không
đặc hiệu, lẫn lộn, yếu ớt, nôn mửa, nóng bừng, vọp bẻ ở chân, suy nhược, thay
đổi vị giác, viêm da và ngứa.
Giảm bạch cầu, gia tăng nồng độ men gan trong
huyết thanh (AST/SGOT) và giảm số lượng tiểu cầu đã được báo cáo xuất hiện trên
một vài bệnh nhân tiêm Intron A vào trong sang thương. Hầu hết các thay đổi cận
lâm sàng này là thoáng qua, hồi phục nhanh chóng và chỉ ở trong mức độ từ nhẹ
đến trung bình.
Tác dụng ngoại ý và kết quả xét nghiệm bất
thường quan sát được ở những bệnh nhân được tái điều trị bệnh mồng gà bằng
Intron A thì tương tự về mặt định tính cũng như định lượng với những tác dụng
ngoại ý được báo cáo trước đó.
Các tai biến sau đã được báo cáo xảy ra rất
hiếm sau khi dùng Intron A :
Rối loạn về huyết học : thiếu máu huyết tán,
tăng g-globuline,
rối loạn đông máu.
Tổng thể : mất nước, tăng calci huyết, suy mòn,
phù ngoại vi, bệnh hạch bạch huyết, phù quanh hốc mắt, sốt cao ác tính, thải
loại cơ quan ghép và toan hóa máu.
Tim mạch : đánh trống ngực, hạ huyết áp tư thế,
đau ngực, tim chậm, suy tim, rung nhĩ, loạn nhịp, ngoại tâm thu, đau thắt ngực,
viêm tĩnh mạch huyết khối và thiếu máu cục bộ ngoại biên.
Hệ thần kinh trung ương và ngoại biên : mất trí
nhớ, trạng thái sững sờ, co giật, tăng trương lực cơ, tăng cảm, bừng hỏa, nhức
nửa đầu, bệnh não, run rẩy, hôn mê, rối loạn ngoại tháp, sa sút trí tuệ liệt,
rối loạn lời nói, ngất, ù tai, chóng mặt, phối hợp bất thường, mất điều hòa,
thất ngữ, rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, dáng đi bất thường, tăng
vận động, loạn trương lực cơ, liệt.
Hệ nội tiết : chứng to vú ở nam giới, nam hoá,
nặng thêm bệnh tiểu đường, tăng đường huyết.
Hệ tiêu hóa : ợ hơi, viêm miệng, táo bón, tắc
ruột, khát nước, đại tiện máu đen, tăng tiết nước bọt, viêm thực quản, xuất
huyết trực tràng sau khi đi tiêu, khó nuốt, xuất huyết tiêu hóa, loét dạ dày,
viêm lợi, tăng sản lợi, xuất huyết trực tràng, bạch sản miệng, nhợt nhạt niêm
mạc đường tiêu hóa, trướng bụng, đầy hơi, lưỡi nhợt nhạt, viêm lưỡi, mất vị
giác.
Hệ gan mật : kết qua xét nghiệm bất thường chức
năng gan, tăng bilirubine huyết, vàng da, gan lách to, lách to, bệnh não do gan.
Hệ cơ xương : đau xương, yếu cơ, viêm khớp,
bệnh khớp, bệnh cơ.
Rối loạn tâm thần : bất lực, bồn chồn, dễ xúc
cảm, rối loạn tính cách, suy nghĩ bất thường, cố gắng tự tử, ác mộng, lãnh đạm,
trầm cảm nặng hơn, loạn thần kinh, phản ứng hung dữ, cảm giác giống say rượu, ảo
giác, sa sút trí tuệ.
Hệ sinh dục : khí hư, đa kinh, xuất huyết tử
cung, xuất huyết âm đạo, mất kinh.
Rối loạn cơ chế đề kháng : chắp mắt, viêm kết
mạc, nhiễm nấm và virus, bệnh candida, nhiễm khuẩn.
Hệ hô hấp : giảm oxy không khí thở vào, tiếng
thở rít, sung huyết mũi, viêm phổi, viêm xoang, viêm mũi, co thắt phế quản, tím
tái, thở khò khè, đau màng phổi, hắt hơi, ho khan, nghẽn mạch phổi, phù phổi,
viêm thanh quản.
Da và phần phụ của da : mề đay, trứng cá, bệnh
móng, ban xuất huyết, thiếu máu cục bộ ngoại vi, nhọt, mụn lở không herpès, hoại
tử biểu bì, rối loạn tuyến lệ, nhạy cảm ánh sáng, da nhợt nhạt, nám da, bất
thường kết cấu tóc, tăng mọc tóc, mất sắc tố da, viêm da dạng liken, nhiễm hắc
sắc tố và bạch biến da.
Hệ niệu : rối loạn tiểu tiện, tiểu đêm, đa
niệu, tiểu ra máu, tiểu nhiều lần, viêm bàng quang, thiểu niệu, hội chứng thận
hư, tiểu không kiềm chế, tăng acide urique huyết.
Rối loạn thị giác và thính giác : viêm kết mạc,
sợ ánh sáng, nhìn mờ, song thị, khô mắt, liệt dây thần kinh vận động mắt, bệnh
võng mạc, xuất huyết võng mạc, quáng gà, đau tai, điếc, tăng thính lực.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Intron A có thể được sử dụng bằng cách dùng
dạng chai vô trùng hay ống tiêm nhựa.
Nên kiểm soát thuốc bằng mắt thường về độ đục
và tính không màu trước khi tiêm.
Đối với phác đồ duy trì dùng đường tiêm dưới
da, bệnh nhân có thể tự tiêm theo hướng dẫn của bác sĩ.
Bệnh nhân có số lượng tiểu cầu nhỏ hơn
50.000/mm3 không nên tiêm bắp Intron A mà nên dùng theo đường tiêm
dưới da.
Nếu tác dụng phụ xuất hiện trong khi trị liệu
với thuốc tiêm Intron A trong bất cứ chỉ định nào, nên điều chỉnh liều dùng
(giảm 50%) hay phải tạm thời ngưng điều trị cho đến khi các tác dụng phụ bớt đi.
Nếu biểu hiện không dung nạp xuất hiện dai dẵng hoặc tái đi tái lại dù đã điều
chỉnh liều, hay bệnh lại tiến triển thêm, nên ngưng trị liệu bằng thuốc tiêm
Intron A.
Viêm gan siêu vi B mạn tính : liều khuyến cáo
là 30-35 MIU/tuần tiêm dưới da hay tiêm bắp hoặc 5 MIU/ngày hay 10 MIU, 3
lần/tuần, trong vòng 16 tuần. Nói khác đi, liều tác dụng thấp nhất của thuốc
tiêm Intron A là 3 MIU, 3 lần/tuần, tiêm dưới da hay tiêm bắp. Những bệnh nhân
có HBV-DNA trong máu trước khi điều trị thấp (nghĩa là dưới 100 pcg) có đáp ứng
tốt nhất với trị liệu Intron A và hầu hết các đáp ứng là giảm 50% HBV-DNA trong
vòng 1 tháng. Bệnh nhân có nguy cơ cao (HBV-DNA > 100
mg) hay những
bệnh nhân không đáp ứng với trị liệu trong vòng 1 tháng, có thể được điều trị
với liều lượng 5 MIU, 3 lần/tuần hoặc 5 MIU mỗi ngày. Liều lượng có thể được
điều chỉnh tùy theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Khi có đáp ứng, chế
độ điều trị được chọn lựa phải duy trì tối đa 4 tháng, trừ khi có sự không dung
nạp trầm trọng.
Viêm gan siêu vi C/NANB mạn tính : liều lượng
đề nghị là tiêm dưới da 3 MIU, 3 lần/tuần, trong 18 tháng. Hầu hết những bệnh
nhân có đáp ứng cho thấy có sự cải thiện mức ALT trong 12 tuần. Một vài bệnh
nhân không đáp ứng với liều 3 MIU có thể đáp ứng với liều cao hơn là 10 MIU, 3
lần/tuần. Những bệnh nhân tái phát sau khi trị liệu bằng Intron A có thể được
tái điều trị với liều tương tự với lần đáp ứng trước.
Viêm gan siêu vi delta mạn tính : Intron A có
thể tiêm dưới da với liều ban đầu 5 MIU/m2 da, 3 lần/tuần, ít nhất từ
3-4 tháng dù rằng điều trị kéo dài hơn có thể được chỉ định. Liều lượng có thể
được điều chỉnh theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân.
Bệnh u nhú thanh quản : liều lượng khuyến cáo
của Intron A là tiêm dưới da 3 MIU/m2 da, 3 lần/tuần (cách ngày), bắt
đầu sau phẫu thuật (bằng tia laser) lấy đi mô bướu. Liều lượng có thể điều chỉnh
theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Có thể cần hơn 6 tuần trị liệu mới
thấy đáp ứng.
Ung thư máu tế bào tóc : liều lượng đề nghị của
Intron A là tiêm dưới da hay tiêm bắp 2 MIU/m2 da, 3 lần/tuần (cách
ngày). Liều lượng có thể điều chỉnh lại tùy theo khả năng dung nạp thuốc của
bệnh nhân. Những bệnh nhân không cắt lách cũng đáp ứng tương tự bệnh nhân cắt
lách với những nhu cầu về truyền máu giảm dần giống nhau. Sự bình thường hóa một
hay nhiều thông số huyết học thường bắt đầu trong vòng 2 tháng điều trị. Sự cải
thiện tất cả ba thông số (lượng bạch cầu hạt, lượng tiểu cầu và mức hémoglobine)
có thể cần đến 6 tháng hay hơn nữa. Trước khi bắt đầu điều trị, cần làm các xét
nghiệm để đánh giá lượng hémoglobine, tiểu cầu, bạch cầu hạt và các tế bào tóc ở
máu ngoại biên và các tế bào tóc tủy xương. Các thông số này phải được kiểm tra
định kỳ trong suốt quá trình điều trị để xác định có hay không có đáp ứng với
điều trị. Nếu có đáp ứng, nên duy trì điều trị cho đến khi không cải thiện hơn
nữa và các thông số trên được ổn định trong khoảng 3 tháng. Nên ngưng thuốc nếu
không có đáp ứng trong vòng 6 tháng. Phác đồ điều trị này phải được duy trì trừ
khi bệnh tiến triển nhanh hoặc có sự không dung nạp trầm trọng. Nếu việc điều
trị với Intron A bị gián đoạn, nên lưu ý rằng hơn 90% bệnh nhân có đáp ứng lại
với việc tái điều trị bằng Intron A.
Ung thư máu dòng tủy mạn tính : liều lượng đề
nghị của Intron A là tiêm dưới da 4-5 MIU/m2 mỗi ngày. Để kiểm soát
lượng bạch cầu, có thể cần liều duy trì thay đổi từ 0,5-10 MIU/m2.
Khi lượng bạch cầu đã được kiểm soát, có thể tiêm 3 lần/tuần (cách ngày). Các
nghiên cứu đã cho thấy bệnh nhân ở giai đoạn bệnh mãn tính có đáp ứng với Intron
A tốt hơn. Điều trị nên bắt đầu sớm ngay sau chẩn đoán và duy trì cho đến khi có
đáp ứng hoàn toàn về huyết học hay ít nhất 18 tháng.
Nói chung, các bệnh nhân đáp ứng thường có đáp
ứng về huyết học trong vòng 2- 3 tháng điều trị. Những bệnh nhân này phải được
tiếp tục điều trị cho đến khi có đáp ứng hoàn toàn về huyết học, như đã được
định nghĩa là có lượng bạch cầu vào khoảng 3-4 x 109/l.
Tất cả các bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn về huyết
học phải được điều trị tiếp tục để đạt được đáp ứng di truyền tế bào học, mà đáp
ứng này ở một số bệnh nhân chỉ có thể đạt được sau 2 năm điều trị. Với bệnh nhân
lúc chẩn đoán có lượng bạch cầu cao hơn 50 x 109/l, bác sĩ có thể
chọn lựa để bắt đầu điều trị với liều chuẩn hydroxyurea và sau đó thay thế bằng
Intron A khi bạch cầu giảm dưới 50 x 109/l. Những bệnh nhân mới được
chẩn đoán ung thư máu dòng tủy mãn tính với Ph dương tính cũng nên được điều trị
phối hợp Intron A và hydroxyurea. Intron A được bắt đầu dùng với liều thay đổi
từ 6-10 MIU mỗi ngày tiêm dưới da. Hydroxyurea được thêm vào với liều 1,0-1,5 g,
2 lần/ngày nếu lượng bạch cầu ban đầu hơn 10 x 109/l và được tiếp tục
cho đến khi lượng bạch cầu xuống dưới 10 x 109/l. Sau đó, ngưng
hydroxyurea và chỉnh liều Intron A lên hay xuống để duy trì bạch cầu đa nhân
trung tính giữa 1- 5 x 10 9/l và tiểu cầu lớn hơn 75 x 10 9/l.
Bệnh tăng tiểu cầu đi kèm theo ung thư máu dòng
tủy mãn tính : liều khuyến cáo giống như với liều điều trị bệnh ung thư máu dòng
tủy mãn tính. Việc điều chỉnh liều áp dụng để kiểm soát lượng bạch cầu cũng tỏ
ra thích hợp để kiểm soát lượng tiểu cầu. Dựa trên kinh nghiệm lâm sàng tích tụ
cho đến nay, khoảng 1/4 (26%) bệnh nhân được chẩn đoán bạch cầu tủy mạn tính
đồng thời có bệnh tăng tiểu cầu với lượng tiểu cầu trên 500 x 10 9/l.
Lượng tiểu cầu đã được kiểm soát trên tất cả các bệnh nhân sau 2 tháng điều trị.
Lượng tiểu cầu được kiểm tra mỗi tháng không có lần nào dưới 80 x 10 9/l.
Bệnh đa u tủy :
Điều trị tấn công : thêm vào cùng với hóa trị
liệu tấn công, Intron A có thể được tiêm dưới da với liều 3-5 MIU/m2,
3 lần/tuần (cách ngày) trong suốt giai đoạn tấn công.
Điều trị duy trì : ở những bệnh nhân trong giai
đoạn ổn định sau đợt hóa trị liệu tấn công, có thể dùng duy nhất Intron A với
liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần, tiêm dưới da.
Điều trị tái phát hay bệnh kháng trị : ở bệnh
nhân có bệnh tái phát sau hóa trị liệu hay kháng với hóa trị, có thể chỉ cần
tiêm Intron A đơn thuần với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần.
U lympho bào không Hodgkin : bổ sung thêm trong
hóa trị liệu, có thể tiêm Intron A dưới da với liều 5 MIU, 3 lần/tuần (cách
ngày).
Ung thư Kaposi do AIDS : liều thích hợp vẫn
chưa được xác định. Có hiệu quả khi tiêm dưới da hay tiêm bắp Intron A với liều
30 MIU/m2, 3-5 lần/tuần. Liều thấp hơn (10-12 MIU/m2/ngày)
cũng được áp dụng mà không ghi nhận sự giảm rõ rệt hiệu quả điều trị.
Một cách khác, Intron A có thể dùng tiêm truyền
tĩnh mạch với liều 50 MIU/m2/ngày trong 30 phút trong 5 ngày liên
tiếp, sau đó ngưng ít nhất 9 ngày rồi mới bắt đầu đợt trị liệu 5 ngày kế tiếp.
Khi bệnh ổn định hoặc điều trị có đáp ứng, nên tiếp tục trị liệu cho đến khi
không có biểu hiện của bướu hoặc cho đến khi cần thiết ngưng thuốc do có dấu
hiệu của nhiễm trùng cơ hội hay tác dụng phụ trầm trọng.
Kết hợp với zidovudine (AZT) : trong các nghiên
cứu lâm sàng, những bệnh nhân AIDS cùng với Sarcome Kaposi được cho dùng Intron
A kết hợp với AZT. Đối với hầu hết bệnh nhân, phác đồ điều trị sau được dung nạp
tốt : Intron A 5-10 MIU/m2 mỗi ngày ; AZT 100 mg mỗi 4 giờ. Triệu
chứng độc tính để giới hạn liều là giảm bạch cầu trung tính. Intron A có thể
được bắt đầu với liều 3-5 MIU/m2 mỗi ngày. Sau 2-4 tuần, tùy theo sự
dung nạp của bệnh nhân, có thể tăng liều Intron A từ 5 đến 15 MIU/m2
mỗi ngày ; AZT có thể tăng đến 200 mg mỗi 4 giờ. Liều lượng phải được điều chỉnh
trên từng cá nhân, dựa vào sự đáp ứng trị liệu và sự dung nạp thuốc của mỗi
người bệnh.
Ung thư tế bào thận : trong khi liều thích hợp
vẫn chưa được xác định, liều khuyến cáo trong giai đoạn tấn công là 10 MIU/m2/ngày
(tối đa đến 18 MIU/ngày), tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Liều lượng có thể được
điều chỉnh tùy theo tuổi tác và tình trạng của bệnh nhân. Liều này có thể đạt
đến bằng cách tăng từ từ theo từng nấc 3 MIU/m2/ngày trong khoảng
thời gian 3 ngày (3 MIU/m2/ngày cho 3 ngày, 9 MIU/m2/ngày
cho 3 ngày, rồi 18 MIU/ngày). Liều tối đa được khuyến cáo là 36 MIU/ngày, tùy
vào sự dung nạp của bệnh nhân. Thời gian điều trị tấn công kéo dài ít nhất là 3
tháng để có thể quyết định tiếp tục hay ngưng trị liệu. Nếu bệnh nhân có bằng
chứng tiến triển bệnh, phải ngưng ngay điều trị tấn công. Đối với trị liệu duy
trì, có thể dùng liều tương tự với kéo dài khoảng cách dùng thành 3 lần mỗi tuần
trong ít nhất 6 tháng.
Ung thư buồng trứng : liều khuyến cáo cho bệnh
nhân mắc bệnh ung thư buồng trứng dai dẵng, di căn đã giảm bớt là 50 MIU tiêm
vào phúc mạc nếu chỉ dùng duy nhất một loại thuốc. Pha thuốc tiêm Intron A trong
250 ml dung dịch muối, thêm vào 1750 ml dung dịch thẩm phân và tiêm phúc mạc qua
catheter. Nên thực hiện tiêm truyền nhỏ giọt trong khoảng một giờ. Có thể lặp
lại cách thức này mỗi tuần, trong ít nhất 16 tuần trước khi bệnh nhân được đánh
giá lại tình trạng bệnh.
Bướu di căn dạng carcinome (bướu tuyến tụy nội
tiết) : hoạt tính trị liệu của Intron A đã được thấy rõ ràng ở bệnh nhân bướu di
căn dạng carcinome và hội chứng sau khi dùng thuốc tiêm dưới da 3-4 MIU/m2
mỗi ngày hay cách ngày, và tiêm dưới da 3 lần một tuần bắt đầu với liều 2 MIU/m2
và tăng dần đến 3, 5, 7 và 10 MIU/m2 với các khoảng cách 2 tuần tùy
theo độc tính. Trong khi sự thoái hóa bướu nguyên phát không xuất hiện, 20% bệnh
nhân giảm 50% ở nước tiểu trong vòng 24 giờ [mức 5-hydroxyindole acetic acid
(5-HIAA)]. Những bệnh nhân dùng Intron A trong 6 tháng (2 MIU/m2/ngày,
tiêm dưới da trong vòng 3 ngày đầu sau đó tăng đến 5 MIU/m2, tiêm
dưới da 3 lần/tuần) cho đáp ứng khách quan khoảng 50% trong điều trị kéo dài.
Những bệnh nhân bướu ác tính dạng carcinome có thể xuất hiện bệnh tự miễn trong
thời gian trị liệu Intron A, đặc biệt khi có tự kháng thể. Vì vậy, phải kiểm
soát chặt chẽ bệnh nhân về các triệu chứng thực thể và triệu chứng cơ năng của
bệnh tự miễn trong suốt quá trình điều trị.
Bệnh u sắc tố ác tính : được dùng như một điều
trị hỗ trợ cho phẫu thuật, Intron A được tiêm tĩnh mạch với liều 20 MIU/m2,
5 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần, sau đó là 10 MIU/m2, tiêm dưới da 3
lần mỗi tuần trong vòng 48 tuần. Khi phối hợp với hóa trị liệu cho bệnh nhân u
sắc tố di căn, Intron A được dùng tiêm tĩnh mạch với liều 15 MIU/m2,
5 lần mỗi tuần trong 3 tuần, sau đó tiêm dưới da 10 MIU/m2, 3 lần mỗi
tuần cho đến khi có dấu hiệu cải thiện hay khi bác sĩ cảm thấy không còn cần
thiết ; bệnh nhân được điều trị lâu hơn 2 năm.
Ung thư bề mặt bàng quang : đối với ung thư
biểu mô tế bào chuyển tiếp, liều khuyến cáo là 30-50 MIU mỗi tuần tiêm nhỏ giọt
vào bàng quang trong khoảng 8-12 tuần ; đối với ung thư tại chỗ, liều khuyến cáo
là 60-100 MIU, tiêm nhỏ giọt mỗi tuần trong vòng 12 tuần.
Cách thức tiêm truyền nhỏ giọt Intron A đã pha
vào trong bàng quang : bệnh nhân nên nhịn uống trong 8 giờ trước khi tiêm truyền
để giúp duy trì nồng độ thuốc tối ưu và tránh sự bài tiết quá sớm. Bàng quang
nên trống trước khi tiêm truyền. Dung dịch được tiêm truyền từ bơm tiêm vào bàng
quang qua 1 catheter tiệt trùng. Bệnh nhân phải giữ dung dịch trong bàng quang
trong 2 giờ. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân phải thay đổi tư thế mỗi 15
phút để bảo đảm toàn bộ bề mặt bàng quang được tiếp xúc. Sau 2 giờ, nên khuyên
bệnh nhân đi tiểu để bài tiết hoàn toàn.
Condylomata Acuminata (condilom sùi, bệnh mồng
gà) : các sang thương được tiêm thuốc trước tiên phải được lau sạch sẽ bằng gạc
tẩm cồn vô trùng. Tiêm vào trung tâm sang thương bằng một kim nhỏ (số 30). Tiêm
0,1 ml dung dịch pha sẵn chứa 1 MIU Intron A vào sang thương 3 lần một tuần và
cách ngày trong vòng 3 tuần. Có thể cùng lúc điều trị 5 sang thương. Liều tổng
cộng tối đa cho việc tiêm thuốc mỗi tuần không được vượt quá 15 MIU. Sang thương
rộng có thể được điều trị bằng cách tiêm nhiều mũi (tối đa 5 MIU Intron A tổng
cộng trong một ngày) hay bằng cách tiêm liên tục lên những vùng khác nhau của
sang thương.
Tái điều trị : sự cải thiện thường xuất hiện
4-8 tuần sau khi bắt đầu đợt điều trị đầu tiên. Nếu kết quả lần trị liệu này
chưa thỏa đáng, nên trị liệu đợt thứ nhì với cùng phác đồ tương tự nếu các triệu
chứng chức năng và thực thể hay các thay đổi về các thông số xét nghiệm không
ngăn cản việc tái điều trị.
Điều trị các sang thương phụ : ngay sau khi kết
thúc 3 tuần điều trị đầu tiên, có thể bắt đầu đợt điều trị thứ hai với phác đồ
điều trị tương tự để điều trị tối đa 5 sang thương phụ ở bệnh nhân có từ 6-10
condylom. Bệnh nhân có hơn 10 condylom có thể được điều trị liên tiếp phụ thuộc
vào số lượng condylom. Trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân có
condylom cũng được điều trị với Intron A tiêm vào trong sang thương với liều 1,5
MIU/sang thương sau đó bôi tại chỗ podophylline 25%. Việc điều trị này được thực
hiện mỗi tuần một lần, trong vòng 3 tuần.
Ung thư tế bào nền : sang thương trước hết phải
được làm sạch bằng gạc tẩm cồn vô trùng. Tiêm vào phần nền và phần chất của sang
thương bằng một kim nhỏ (số 30) và 1 ống tiêm 1 ml. Với những sang thương có
diện tích ban đầu dưới 2 cm2, tiêm 0,15 ml dung dịch chứa 1,5 MIU
Intron A vào sang thương 3 lần một tuần cách ngày, trong vòng 3 tuần. Liều tổng
cộng nên đạt đến 13,5 MIU. Sang thương tế bào nền có diện tích rộng và nốt loét
(sang thương rộng 2-10 cm2) nên được điều trị 3 lần một tuần trong
vòng 3 tuần với 0,5 MIU/cm2 diện tích ban đầu của sang thương (liều
tối thiểu là 1,5 MIU). Mỗi sang thương nên được điều trị một lần. Sự cải thiện
tình trạng lâm sàng (hình dáng kích thước, ban đỏ...) của sang thương đã được
điều trị là chỉ định đáng tin cậy cho việc điều trị bằng sinh thiết. Do đó tình
trạng lâm sàng phải được kiểm tra định kỳ sau khi kết thúc điều trị. Sự cải
thiện triệu chứng thực thể của bệnh thường xuất hiện khoảng 8 tuần sau khi bắt
đầu điều trị. Nếu không thấy cải thiện lâm sàng sau 2-3 tháng, nên dùng phẫu
thuật cắt bỏ sang thương.
U bạch huyết tế bào T ở da (u sùi dạng nấm) : ở
bệnh nhân có mảng u sùi dạng nấm, Intron A gây thuyên giảm lâm sàng khi tiêm vào
trong vết thương với liều lượng 1-2 MIU/vị trí tiêm 3 lần mỗi tuần trong vòng 4
tuần liên tiếp. Trước hết, sang thương phải được lau sạch bằng gạc tẩm cồn tiệt
trùng ; kim được tiêm theo một góc gần như song song với da. Tiêm vào biểu mô bề
mặt dưới mảng sang thương với một kim nhỏ (số 30) và ống tiêm 1 ml. Cần chú ý
không được đưa quá sâu dưới sang thương và cần tránh tiêm dưới da. Nên lặp lại
liệu pháp này 3 lần một tuần, trong vòng 4 tuần với tổng số 12 mũi tiêm vào mỗi
sang thương. Trong những thử nghiệm lâm sàng, cải thiện ngay tại vị trí sang
thương được ghi nhận duy trì vài tuần sau khi kết thúc điều trị bằng cách tiêm
thẳng vào trong sang thương với liều tổng cộng là 2 MIU/lần thực hiện.
Dày sừng quang hóa : sang thương có thể được
điều trị với 500 000 (5 x 105 IU) Intron A trong 0,1 ml dung dịch,
tiêm vào sang thương với 1 kim nhỏ (số 25-30). Kim nên đâm vào phần nền của sang
thương với một góc gần như song song với mặt phẳng da. Cần phải chú ý không đưa
vào dưới sang thương quá sâu ; cần nên tránh tiêm dưới da vì khu vực này ở dưới
nền của sang thương. Mũi tiêm bề mặt có thể đưa đến chỗ rò rỉ với sự thâm nhiễm
của duy nhất lớp sừng hoá. Nên lặp lại liệu pháp này 3 lần mỗi tuần trong vòng 3
tuần với tổng số 9 mũi tiêm vào mỗi chỗ dày sừng quang hóa/lần thực hiện với
liều tổng cộng là 1,5 MIU/lần thực hiện. Nên chờ khoảng bốn tuần từ lúc kết thúc
đợt trị liệu trước đó cho đến khi có kết quả lâm sàng rõ rệt.
Sang thương có hình thái học hay triệu chứng
học lâm sàng bất thường không nên điều trị bằng Intron A.
Pha chế bột đông khô Intron A để tiêm hay tiêm
thẳng vào sang thương : lọ bột chứa liều duy nhất phải được pha với 1 ml nước
cất pha tiêm. Cũng có thể dùng nước định khuẩn pha tiêm chứa 0,9 % rượu
benzylique. Lọ chứa nhiều liều phải được pha với nước định khuẩn pha tiêm chứa
0,9 % rượu benzylique (5 ml cho lọ 25 MIU). Để tiêm vào sang thương, pha một lọ
10 MIU Intron A với 1 ml dung môi sẽ cho một dung dịch đẳng trương với nồng độ
mong muốn là 1 MIU/0,1 ml. Pha thuốc với những lọ có kích cỡ khác nhau để đạt
được liều lượng khuyến cáo cho một dung dịch nhược hay đẳng trương. Dùng bơm và
kim tiêm tiệt trùng, tiêm một lượng thích hợp dung môi vào lọ Intron A.
Lắc nhẹ để hòa tan bột hoàn toàn. Sau đó, liều
lượng thích hợp sẽ được rút ra bằng bơm tiêm tiệt trùng và tiêm dưới da, bắp
thịt hay vào sang thương như được chỉ định.
Pha chế dung dịch Intron A để tiêm truyền tĩnh
mạch : (xem Liều lượng và cách dùng). Không được tiêm truyền đồng thời thuốc
khác cùng với Intron A.
Bệnh Sarcoma Kaposi : phác đồ liều lượng thay
đổi : nếu có thể, nên pha dịch tiêm truyền ngay trước khi dùng. Bột đông khô
Intron A nên được pha bằng cách thêm 1 ml nước cất pha tiêm vào lọ. Sau đó rút
ra lượng Interferon được tính toán trước cho 1 liều thích hợp và cho vào 50 ml
dung dịch muối vô trùng. Trước khi tiêm mỗi liều Intron A, bệnh nhân cần có sẵn
một kim bướm số 21 dùng tiêm tĩnh mạch (hay cỡ kim tiêm tĩnh mạch khác được cung
cấp). Cần bắt đầu tiêm truyền dung dịch muối đẳng trương (tốc độ 200 ml/giờ)
trước khi cho thuốc vào. Nên ngưng tiêm truyền dung dịch muối đẳng trương ngay
trước khi bắt đầu cho Intron A vào. Dung dịch Intron A trong 50 ml dung dịch
muối tiệt trùng đã pha sẵn nên được tiêm truyền trong khoảng thời gian là 30
phút. Sau khi truyền thuốc xong phải tiếp tục truyền dung dịch muối bình thường
trong vòng 10 phút với tốc độ là 200 ml/giờ như ban đầu.
Bệnh u sắc tố ác tính : Bột đông khô Intron A
nên được pha bằng cách thêm 1 ml nuớc cất pha tiêm vào lọ. Lượng Interferon được
tính trước cho một liều thích hợp sau đó được rút ra và thêm vào trong 100 ml
dung dịch muối đẳng trương tiệt trùng và tiêm truyền trong khoảng 20 phút. Không
được truyền kết hợp Intron A với một thuốc khác.
Pha Intron A để tiêm vào bàng quang : cho liều
khuyến cáo là 100 MIU Intron A, một số thích hợp các lọ 5, 10, 25, 30 hay 50 MIU
để làm đủ 100 MIU được pha với nước cất pha tiêm. Không pha Intron A với nước
định khuẩn pha tiêm để tiêm truyền vào bàng quang. Thêm vào mỗi lọ 1 ml nước cất
pha tiêm. Lắc nhẹ để hòa tan bột hoàn toàn để được một dung dịch trong suốt. Gộp
các dung dịch pha lại bằng cách hút vào một ống bơm tiêm 30 ml để được liều tổng
cộng 100 MIU Intron A. Thêm một lượng vừa đủ nước cất pha tiêm vào bơm tiêm để
có một thể tích là 30 ml dung dịch. Để tiêm nhỏ giọt vào bàng quang, bơm tiêm
phải được nối vào một catheter tiệt trùng. Cần quan sát dung dịch bằng mắt
thường để kiểm tra các tiểu phân lơ lửng và tính không màu trước khi đưa vào cơ
thể. Dung dịch pha phải trong suốt và không màu đến vàng nhạt. Mặc dù dung dịch
pha Intron A với nước cất pha tiêm có thể ổn định trong 24 giờ ở nhiệt độ 2-30oC,
nên dùng dung dịch tiêm vào bàng quang trong vòng 4 giờ sau khi pha.
LƯU Ý KHI SỬ DỤNG