Clarityne được chỉ định trong những triệu chứng
liên quan đến viêm mũi dị ứng như hắt hơi, chảy nước mũi, và ngứa mũi, cũng như
ngứa và xót mắt. Những dấu hiệu và triệu chứng ở mũi và mắt giảm nhanh chóng sau
khi dùng đường uống.
Clarityne cũng được chỉ định trong điều trị các
triệu chứng, dấu hiệu mề đay mạn tính và các rối loạn dị ứng ngoài da khác.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Khi dùng đồng thời với rượu, loratadine không
có tác dụng mạnh như đo được ở các nghiên cứu tâm thần vận động.
Các thử nghiệm lâm sàng được kiểm soát cho thấy
có sự gia tăng nồng độ loratadine trong huyết tương sau khi dùng đồng thời với
kétoconazole, érythromycine hoặc cimétidine, nhưng không có sự thay đổi đáng kể
(kể cả thay đổi trên điện tâm đồ). Nên thận trọng khi sử dụng cùng lúc với các
dược phẩm được biết có tác động ức chế chuyển hóa gan cho đến khi có kết quả
nghiên cứu đầy đủ về tương tác thuốc.
Ảnh hưởng của thuốc đến các kết quả xét
nghiệm :
Nên ngưng sử dụng viên Clarityne khoảng 48 giờ
trước khi tiến hành các tiến trình thử nghiệm trên da vì các thuốc kháng
histamine có thể làm mất hoặc giảm những dấu hiệu của các phản ứng dương tính
ngoài da.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Clarityne không gây buồn ngủ đáng kể trên lâm
sàng ở liều hàng ngày 10 mg. Các tác dụng ngoại ý thông thường bao gồm mệt mỏi,
nhức đầu, buồn ngủ, khô miệng, rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, viêm dạ dày, và
các triệu chứng dị ứng như phát ban.
Trong suốt quá trình tiếp cận thị trường của
viên Clarityne, hiếm thấy trường hợp rụng tóc, sốc phản vệ, chức năng gan bất
thường. Tương tự, tỷ lệ tác dụng ngoại ý đi kèm với xirô Clarityne cũng giống
như ở kiểm chứng placebo. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng ở trẻ em,
tỷ lệ các tác động liên quan đến điều trị như nhức đầu, an thần và lo lắng, là
những tác dụng rất hiếm khi xảy ra, cũng tương tự như placebo.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Dùng quá liều có thể bị buồn ngủ, nhịp tim
nhanh, và nhức đầu. Uống một lần 160 mg thì không có các tác dụng ngoại ý. Trong
trường hợp quá liều, nên lập tức điều trị triệu chứng và điều trị nâng đỡ.
Điều trị : Bệnh nhân nên được gây nôn
mặc dù khi quá liều cũng có khả năng tự nôn mửa. Phương pháp hay được sử dụng là
gây nôn bằng sirô ipeca. Tuy nhiên không nên gây nôn ở bệnh nhân bị giảm tri
giác. Tác động của ipeca được hỗ trợ bởi các vận động cơ học và bằng cách cho
uống từ 240 đến 360 ml nước. Nếu bệnh nhân không ói trong vòng 15 phút, nên cho
dùng lại liều ipeca. Đề phòng không để hít dịch nôn vào đường hô hấp, nhất là ở
trẻ em. Sau khi ói, nên dùng than hoạt dạng pha sệt với nước để hấp thu dược
phẩm còn sót lại trong bao tử. Nếu gây nôn không thành công hoặc có chống chỉ
định, nên tiến hành súc rửa dạ dày. Dung dịch được chọn để rửa là nước muối sinh
lý, nhất là ở trẻ em. Ở người lớn, có thể dùng nước ; tuy nhiên phải tháo ra
càng nhiều càng tốt trước khi bơm rửa đợt khác. Nước muối tẩy rửa dẫn nước vào
đường ruột bằng sự thẩm thấu, do đó nó còn có tác động pha loãng nhanh chóng các
chất chứa trong ruột. Loratadine, không thải được qua đường lọc máu ở bất kỳ mức
độ nào. Nên tiếp tục theo dõi bệnh nhân sau khi điều trị cấp cứu.
BẢO QUẢN