Phân tích huyết tương, nước tiểu và phân của 3
người nam tình nguyện uống 1 liều duy nhất 200 mg flutamide được đánh dấu
tritium cho thấy thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn và bài tiết chủ yếu qua
nước tiểu. Có ít nhất 6 chất chuyển hóa được nhận biết trong huyết tương. Chất
chuyển hóa chính trong huyết tương, dẫn xuất
a-hydroxy có
tác động sinh học, có thời gian bán hủy từ 5-6 giờ. Chất chuyển hóa chính trong
nước tiểu là 2-amino-5-nitro-4-(trifluoromethyl)-phénol.
Các nam tình nguyện trẻ tuổi tham gia vào các
nghiên cứu mù đôi để khảo sát các tác động dược lực của flutamide đường uống
hoặc giả dược bằng cách kiểm tra các thông số đặc hiệu như : máu thường qui và
sinh hóa nước tiểu, các nồng độ nội tiết tố trong huyết tương, các yếu tố đông
máu, số lượng tinh trùng, tính vận động và hình thái học. Các thông số này được
kiểm tra trước khi dùng thuốc, nhiều lần trong thời gian nghiên cứu và 6 tuần
sau khi ngưng thuốc. Mỗi nhóm điều trị được cho giả dược, 125 hoặc 500 mg
flutamide 3 lần/ngày trong 6 tuần. Mặc dù không có những thay đổi đáng kể trong
các xét nghiệm này, sự tăng các nồng độ testostérone và estradiol trong huyết
tương liên quan với liều dùng thuốc được ghi nhận. Nhóm được dùng liều cao hơn
thì có sự xuất hiện của việc giảm lượng tinh trùng. Ở nhóm này có hiện tượng đau
vú, vú to ở nam và ở một số bệnh nhân có hiện tượng tiết sữa non.
Hiệu lực : trên cả hai nghiên cứu lâm sàng công
khai và mù đôi ở nhiều trung tâm khác nhau, các bệnh nhân có tiền sử ung thư
tuyến tiền liệt tiến triển được cho điều trị với flutamide. Các đối tượng được
nghiên cứu bao gồm bệnh nhân không được điều trị cũng như những bệnh nhân không
đáp ứng hoặc bệnh nhân trở nên ít đáp ứng đối với cách điều trị thông thường
(cắt bỏ tinh hoàn và/hoặc estrogène). Theo các chọn lọc lâm sàng này, flutamide
đã chứng minh có đáp ứng lâm sàng thích hợp.
CHỈ ĐỊNH
Tổn thương gan : do có bất thường transaminase,
vàng da ứ mật, hoại tử gan và bệnh não do gan đã được báo cáo xuất hiện khi sử
dụng flutamide, nên xem xét thực hiện các xét nghiệm chức năng gan định kỳ. Nên
làm các xét nghiệm thích hợp ngay khi có triệu chứng đầu tiên của rối loạn chức
năng gan (như ngứa ngáy, nước tiểu sẩm màu, thường xuyên chán ăn, vàng da, đau
phần tư phía trên bên phải hay có những triệu chứng "giống như bị cúm" không
giải thích được).
Nếu bệnh nhân có bằng chứng cận lâm sàng của
tổn thương gan hay vàng da, không có di căn đã được chứng minh bằng sinh thiết,
nên ngưng dùng hay giảm liều Fugerel. Tổn thương gan thường là có hồi phục sau
khi ngưng thuốc và ở một vài bệnh nhân hồi phục sau khi giảm liều. Tuy nhiên
cũng có báo cáo về những trường hợp tử vong do tổn thương gan trầm trọng đi kèm
với sự sử dụng flutamide.
Flutamide không cho thấy khả năng gây biến dị
trong xét nghiệm Ames, test sửa chữa ADN, xét nghiệm trao đổi chromatide chị em
in vivo hay xét nghiệm tử vong tính trội ở chuột.
Sau một thời gian điều trị kéo dài ở chuột,
Fugerel gây u tuyến kẽ tế bào tinh hoàn và sự gia tăng phụ thuộc liều lượng của
u tuyến vú hay carcinome tuyến vú. Không biết được sự liên quan của những khám
phá này trên người.
Trong phương pháp điều trị dùng Fugerel phối
hợp với chất chủ vận LHRH, nên lưu ý tác dụng ngoại ý có thể xảy ra của mỗi
thuốc. Bệnh nhân không nên gián đoạn việc sử dụng thuốc hay thay thế thuốc khác
mà không hỏi ý kiến của bác sĩ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Bệnh nhân được điều trị duy nhất với Fugerel :
các tác dụng ngoại ý thường được ghi nhận nhất với Fugerel là hiện tượng vú to ở
nam và/hoặc đau vú, đôi khi có kèm theo sự tiết sữa. Các dấu hiệu này biến mất
khi ngưng điều trị hoặc khi giảm liều.
Fugerel có nguy cơ thấp trên hệ tim mạch và khi
được so sánh với DES (diethylstilbestrol), nguy cơ này thấp hơn một cách đáng
kể.
Một số tác dụng ngoại ý ít gặp hơn : buồn nôn,
nôn mửa, tăng sự ngon miệng, mất ngủ, mệt mỏi, bất thường chức năng gan thoáng
qua và viêm gan .
Một số tác dụng ngoại ý hiếm gặp : giảm hoạt
động tình dục, chán ăn, nôn nao dạ dày, đau như bị loét, ợ nóng, tiêu chảy, táo
bón, phù nề, vết bầm máu, herpès zoster, ngứa ngáy, hội chứng giống lupus, nhức
đầu, hoa mắt, đứng không vững, khó chịu, mắt mờ, khát nước, đau ngực, lo lắng,
trầm cảm, phù bạch huyết.
Hiếm gặp hiện tượng giảm lượng tinh trùng.
Liệu pháp dùng thuốc kết hợp : tác dụng ngoại ý
thường gặp nhất gặp được khi dùng kết hợp Fugerel với một chất chủ vận LHRH là
cơn bừng hỏa, giảm tình dục, bất lực, tiêu chảy, buồn nôn và nôn mửa. Trừ trường
hợp tiêu chảy, các tác dụng ngoại ý này được biết có xảy ra với chất chủ vận
LHRH khi dùng riêng rẽ với tỉ lệ tương tự.
Tỉ lệ cao chứng to vú ở nam giới quan sát được
trong sự sử dụng flutamide riêng rẽ được giảm đáng kể khi dùng thuốc kết hợp.
Trong các xét nghiệm lâm sàng, không quan sát được có sự khác biệt giữa nhóm
dùng giả dược và nhóm dùng phối hợp flutamide và chất chủ vận LHRH.
Hiếm khi bệnh nhân mắc chứng thiếu máu, giảm
bạch cầu, bệnh đường tiêu hóa không đặc hiệu, chán ăn, kích ứng và nổi ban nơi
tiêm, phù nề, các triệu chứng thần kinh cơ, vàng da, triệu chứng bệnh đường tiết
niệu sinh dục, cao huyết áp, tác dụng ngoại ý lên hệ thần kinh trung ương (buồn
ngủ, trầm cảm, lú lẫn, lo lắng, ưu tư) và giảm tiểu cầu.
Thêm vào đó, các tác dụng ngoại ý được báo cáo
trong quá trình đưa Fugerel xâm nhập thị trường bao gồm : thiếu máu tán huyết,
thiếu máu đại hồng cầu, méthémoglobine huyết, phản ứng cảm quang bao gồm ban đỏ,
nổi ban dạng bóng nước và hoại tử biểu bì và thay đổi màu nước tiểu thành màu hổ
phách hay vàng chanh, các tác dụng này có thể quy cho flutamide và/hay các chất
chuyển hóa của nó. Cũng có thể quan sát thấy chứng vàng da ứ mật, bệnh não do
gan và hoại tử gan. Thường các bệnh gan là có hồi phục sau khi ngưng dùng thuốc
; tuy nhiên, đã có những báo cáo về trường hợp tử vong do các tổn thương gan
trầm trọng đi kèm theo sự sử dụng flutamide.
Đã có hai báo cáo về khối u vú ác tính ở nam
xảy ra trên bệnh nhân được điều trị với Fugerel. Một trong những trường hợp đó
là sự gia tăng nặng hơn nốt u có sẵn tìm thấy đầu tiên 3-4 tháng trước khi bắt
đầu điều trị riêng lẻ với Fugerel trên một bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt
lành tính. Sau khi cắt bỏ, tuyến được chẩn đoán là một carcinome ống biệt hóa
kém. Báo cáo còn lại bao gồm chứng to vú ở nam giới và một nốt u tìm thấy trong
khoảng thời gian tương ứng sau 2 và 6 tháng, sau khi bắt đầu trị liệu, nốt u
được cắt bỏ và chẩn đoán là một khối u ống biệt hóa vừa trong giai đoạn T4NOMO,
G3, không có di căn tiến triển.
Các kết quả xét nghiệm bất thường được báo cáo
bao gồm sự thay đổi chức năng gan, gia tăng BUN và hiếm khi gia tăng créatinine
huyết thanh.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Triệu chứng : trong các nghiên cứu trên
thú vật với flutamide dùng riêng rẽ, các dấu hiệu quá liều bao gồm kém hoạt
động, dựng lông, thở chậm, mất điều hòa, và/hoặc chán ăn, an thần, nôn mửa và
méthémoglobine máu.
Chưa thiết lập được các triệu chứng quá liều
hoặc nguy hiểm đến tính mạng liên quan với việc dùng duy nhất 1 liều flutamide.
Điều trị : do flutamide liên kết chặt
chẽ với protéine, phương pháp thẩm phân có thể không hữu hiệu lắm trong việc
điều trị quá liều.
Như trong trường hợp xử lý quá liều với bất kỳ
thuốc nào, nên cân nhắc khả năng của nhiều tác nhân. Nếu bệnh nhân không tự nôn
mửa được, nên gây nôn nếu bệnh nhân đang trong tình trạng còn tỉnh. Chăm sóc hỗ
trợ tổng quát, bao gồm kiểm tra dấu hiệu sinh tồn và theo dõi chặt chẽ bệnh
nhân.
BẢO QUẢN