Duxil làm giàu oxygène cho máu động mạch, giải
quyết được tình trạng thiếu oxy mô. Tác động của Duxil được chứng tỏ rất tốt
trong các khảo sát trên động vật được gây thiếu oxy ở mô não, cũng như trong các
nghiên cứu dược lý lâm sàng trên người.
Ở động vật, Duxil gây tăng áp suất riêng phần
của oxy trong máu động mạch (PaO2), do đó làm :
- tăng áp suất oxy đến mô (PO2) ở vỏ
não ;
- tăng sử dụng oxy ở mô não ;
- hướng sự chuyển hóa ở tế bào não theo hướng
hiếu khí với tăng năng lượng ở tế bào.
Tác động của Duxil trên PaO2, PO2,
trên mức độ sử dụng oxy ở não và điện não đồ chủ yếu là do tác động của
almitrine. Đây là một hoạt chất chính của Duxil, mà tác động của nó được bổ sung
về cường độ và thời gian bởi một hoạt chất chính khác là raubasine.
Ở người, các nghiên cứu dược lý lâm sàng cho
phép kết luận rằng Duxil có những tác động như sau :
- tăng áp suất riêng phần của oxy trong máu
động mạch (PaO2) ;
- tăng độ bão hòa về oxy ở động mạch (SaO2)
;
- giảm sự mất bão hòa về oxy ở động mạch khi
gắng sức, kiểm tra động học được xem như là một trong những biện pháp tốt nhất
hiện nay để đánh giá hiệu quả điều trị thiếu oxy mô.
- tăng hàm lượng trong máu của 2-3
diphosphoglycérate, là một dạng tồn tại của oxy trong máu động mạch,
- hoạt hóa sự chuyển hóa ở mô não được xác nhận
qua các kiểm tra về glucose, nghiên cứu điện sinh vỏ não bằng điện não đồ định
lượng.
Sự cải thiện các thông số đo khí có liên quan
đến sự tăng hiệu suất của quá trình trao đổi khí ở phế nang, được gây bởi
almitrine, hoạt chất chính của Duxil mà không làm biến đổi các chỉ số thông khí.
Trong các trường hợp sau tai biến mạch máu não,
các nghiên cứu được thực hiện nhờ vào phương pháp chụp cắt lớp phát xạ positron
và photon cho thấy dưới tác dụng của Duxil, mối tương quan tưới máu/ chuyển hóa
đạt được tối ưu và có cải thiện sự tưới máu dự trữ não.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Almitrine được hấp thu nhanh và đạt đỉnh hấp
thu trong huyết tương 3 giờ sau khi uống thuốc.
Thuốc chủ yếu được chuyển hóa ở gan.
Almitrine và các chất chuyển hóa chủ yếu được
bài tiết qua mật.
Thuốc được đào thải qua phân và nước tiểu dưới
dạng các chất chuyển hóa không có hoạt tính. Sau khi dùng một liều duy nhất,
thuốc có thời gian bán hủy đào thải trong khoảng 40 đến 80 giờ ; thời gian này
là 30 ngày sau khi dùng lặp lại. Gắn kết với protéine huyết tương cao (trên
99%).
Raubasine được hấp thu nhanh và đạt đỉnh hấp
thu trong huyết tương từ 1 đến 2 giờ sau khi uống thuốc. Sau khi dùng liều duy
nhất, chất này có thời gian đào thải trong khoảng 7 đến 15 giờ ; thời gian này
là 11 giờ sau khi dùng lặp lại.
CHỈ ĐỊNH
Duxil được dùng điều trị các triệu chứng giảm
sút trí tuệ bệnh lý ở người già (như không tập trung, mất trí nhớ...).
Duxil được đề nghị trong :
- các rối loạn màng mạch-võng mạc có nguồn gốc
do thiếu máu cục bộ,
- các rối loạn tiền đình ốc tai có nguồn gốc do
thiếu máu cục bộ.
Duxil được chỉ định sau các tai biến thiếu máu
não cục bộ.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Nếu có cảm giác kiến bò, kim châm hoặc tê ở
các chi dưới xuất hiện và dai dẳng cũng như giảm cân trên 5%, cần phải ngưng
điều trị.
Các dấu hiệu này xuất hiện khi điều trị kéo
dài, sau đó sẽ giảm dần và biến mất khi ngưng điều trị. Rất hiếm khi xảy ra rối
loạn thần kinh ngoại biên : tỉ lệ xuất hiện là 5 trường hợp trên 100.000 tháng
điều trị, trường hợp này cần phải ngưng điều trị.
- Không được phối hợp Duxil với các thuốc khác
có chứa almitrine (như Vectarion).
- Không được kê toa vượt quá liều khuyến cáo.
- Ở bệnh nhân cao huyết áp, song song với điều
trị bằng Duxil, cần duy trì việc điều trị chuyên biệt bệnh cao huyết áp.
LÚC CÓ THAI
Hiếm khi ghi nhận có những tác dụng phụ như :
- sụt cân, rối loạn thần kinh ngoại biên với
các cảm giác bất thường ở chi dưới hoặc bị dị cảm (cảm giác kim châm, kiến bò,
tê...). Các tác dụng này thường xảy ra khi điều trị kéo dài trên 1 năm ; khi gặp
những trường hợp này cần phải ngưng điều trị (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng
lúc dùng) ;
- buồn nôn, có cảm giác nóng và nặng thượng vị,
khó tiêu, rối loạn nhu động ruột, rối loạn giấc ngủ kiểu mất ngủ, ngủ gật, kích
động, lo âu, đánh trống ngực, cảm giác chóng mặt.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG