Nizatidine đối kháng có cạnh tranh thuận nghịch
với histamine ở receptor H2, nhất là tại các receptor H2 ở
tế bào thành của dạ dày.
Tác dụng ức chế sự bài tiết
1. Tác dụng trên sự tiết acid
Nizatidine ức chế sự tiết acid của dạ dày, rõ
rệt nhất vào ban đêm, tác dụng này kéo dài trong 12 giờ. Nizatidine cũng ức chế
rõ sự tiết acid ở dạ dày bị kích thích bởi thức ăn, cà phê, betazole và
pentagastrin (Bảng 1).
Bảng 1 Hiệu quả của uống nizatidine trên sự
tiết acid ở dạ dày
| |
Thời gian sau khi
uống (giờ) |
% lượng acid ở
dạ dày bị ức chế so với liều nizatidine uống (mg) |
| 20-25 |
75 |
100 |
150 |
300 |
| Ban đêm |
sau 10 giờ |
57 |
|
73 |
|
90 |
| Bentazole |
- 3 - |
|
93 |
|
100 |
99 |
| Pentagastrin |
- 6 - |
|
25 |
|
64 |
67 |
| Trong bữa ăn |
- 4 - |
41 |
64 |
|
98 |
97 |
| Cafein |
- 3 - |
|
73 |
|
85 |
96 |
2. Tác dụng lên các sự bài tiết khác của hệ
tiêu hóa
Pepsin : Liều uống nizatidine từ 75 đến
300 mg không ảnh hưởng đến tác dụng của pepsin trong dịch tiết của dạ dày. Lượng
pepsin toàn phần tiết ra cũng giảm tương ứng với giảm thể tích dịch tiết của dạ
dày.
Yếu tố nội tại : Uống nizatidine liều
75-300 mg làm tăng tiết yếu tố nội tại được kích thích bởi betazole.
Gastrin trong huyết thanh : Nizatidine
không có tác động trên nồng độ cơ bản gastrin trong huyết thanh. Không có sự
tiết gastrin trở lại, khi thức ăn đã tiêu hóa trong 12 giờ sau khi dùng
nizatidine.
3. Các tác dụng dược lý khác
a. Hormone : Nizatidine không có ảnh hưởng đến
nồng độ trong huyết thanh của những chất sau : gonadotropin, prolactin, hormone
tăng trưởng, hormone chống bài niệu, cortisol, triiodothyronine, thyroxin,
testosterone, 5a-dihydrotestosterone,
estradiol hoặc androstenedione.
b. Nizatidine không có tác dụng đối kháng
androgen.
4. Dược động học
Sinh khả dụng tuyệt đối của nizatidine khi uống
là > 70%. Nồng độ tối đa trong huyết tương (700-1.800
mg/L khi uống
liều 150 mg nizatidine và 1.400-3.600
mg/L khi uống
liều 300mg) đạt được sau khi uống từ 1/2 giờ đến 3 giờ. Nồng độ 1.000
mg/L tương
đương với 3 mmol/L
; liều 300 mg tương đương với 905 mmol.
Nồng độ trong huyết tương 12 giờ sau khi uống thấp hơn 10
mg/L. Thời
gian bán thải từ 1 đến 2 giờ, độ thanh thải trong huyết tương từ 40 tới 60 L/giờ
và thể tích phân phối từ 0,8 tới 1,5 L/kg. Vì thời gian bán thải ngắn và độ
thanh thải nhanh, nên không có tích lũy thuốc ở người bệnh có chức năng thận
bình thường khi dùng liều 300 mg một lần duy nhất mỗi ngày vào buổi tối hoặc 150
mg mỗi lần, dùng 2 lần trong 24 giờ. Liều dùng nizatidine nên tỷ lệ theo liều đã
khuyến cáo.
Sinh khả dụng của nizatidine khi uống không bị
ảnh hưởng khi dùng chung với propantheline. Các chất kháng acid bao gồm
hydroxide nhôm, magnesi hydroxide và simethicone làm giảm sự hấp thu nizatidine
khoảng 10%. Khi dùng chung với thức ăn, diện tích dưới đường cong (AUC) và nồng
độ tối đa tăng lên khoảng 10%.
Ở người, dưới 7% liều uống nizatidine được
chuyển hóa thành N2-monodesmethyl-nizatidine, cũng là một chất đối
kháng với histamine ở receptor H2 và là chất chuyển hóa chính được
thải trừ theo nước tiểu. Các chất chuyển hóa khác là N2-oxide (dưới
5% liều uống nizatidine), và S-oxide (dưới 6% liều uống nizatidine).
Hơn 90% liều nizatidine uống vào được thải trừ
theo nước tiểu trong vòng 12 giờ. Khoảng 60% được thải trừ dưới dạng chất mẹ
nguyên vẹn. Độ thanh thải thận khoảng 500 mL/phút cho thấy thuốc được thải trừ
tích cực qua ống thận. Dưới 6% liều dùng nizatidine thải theo đường tiêu hóa.
Suy thận mức độ trung bình đến nặng sẽ kéo dài
thời gian bán thải của thuốc và làm giảm độ thanh thải nizatidine. Ở những người
bị thận câm chức năng, thời gian bán thải từ 3,5 giờ đến 11 giờ, và độ thanh
thải huyết tương từ 7 đến 14 L/giờ. Trên lâm sàng, để tránh tích lũy thuốc ở
người bệnh suy thận nặng, nên giảm số lượng và/hoặc số lần dùng nizatidine thích
hợp với độ trầm trọng của bệnh lý chức năng thận (xin đọc phần Liều lượng và
Cách dùng).
Khoảng 35% nizatidine kết hợp với protein huyết
tương, chủ yếu là với a1-acid
glycoprotein. In vitro, warfarin, diazepam, acetaminophen, propantheline,
phenobarbital và propranolol không có ảnh hưởng tới sự gắn kết nizatidine vào
protein huyết tương.
Các Thử Nghiệm Lâm Sàng
1. Loét tá tràng tiến triển :
Trong các nghiên cứu mù đôi có dùng placebo
kiểm chứng ở nhiều trung tâm tại Hoa Kỳ, nội soi chẩn đoán thấy so với placebo
thì vết loét tá tràng được chữa lành nhanh hơn sau khi dùng nizatidine 300 mg
mỗi ngày một lần duy nhất lúc đi ngủ tối hoặc 150 mg mỗi lần, dùng 2 lần/24 giờ
(Bảng 2). Các liều thấp hơn, như 100 mg dùng mỗi ngày một lần, sẽ cho hiệu quả
thấp hơn.
Bảng 2 Chữa lành các vết loét bằng
nizatidine
| |
Nizatidine 300 mg dùng ngày 1
lần lúc đi ngủ |
Nizatidine 150 mg mỗi lần,
dùng ngày 2 lần |
Placebo |
| Số bệnh nhân |
Chữa lành/Có thể đánh giá được |
Số bệnh nhân |
Chữa lành/Có thể đánh giá được |
Số bệnh nhân |
Chữa lành/Có thể đánh giá được |
| Nghiên cứu 1 |
| tuần 2 |
|
|
276 |
93/265 (35%)* |
279 |
55/260 (21%) |
| tuần 4 |
|
|
|
198/259 (76%)* |
|
95/243 (39%) |
| Nghiên cứu 2 |
| tuần 2 |
108 |
24/103 (23%)* |
106 |
27/101 (27%)* |
101 |
9/93 (10%) |
| tuần 4 |
|
65/97 (67%)* |
|
66/97 (68%)* |
|
24/84 (29%) |
| Nghiên cứu 3 |
| tuần 2 |
92 |
22/90 (24%)** |
|
|
98 |
13/92 (14%) |
| tuần 4 |
|
52/85 (61%)* |
|
|
|
29/88 (33%) |
| tuần 8 |
|
68/83 (82%)* |
|
|
|
39/79 (49%) |
* P < 0,01 so với placebo
** P < 0,05 so với placebo
Tại Châu Âu, trong các nghiên cứu mù đôi có
kiểm chứng, so sánh ở nhiều trung tâm, thấy tỷ lệ lành vết loét sau khi uống
nizatidine (N=388) là 81% trong vòng 4 tuần lễ và 92% trong vòng 8 tuần lễ.
2. Điều trị duy trì các ổ loét tá tràng đã
lành :
Giảm liều nizatidine đã chứng tỏ có hiệu quả
như một phương pháp điều trị duy trì sau khi các ổ loét tá tràng tiến triển đã
lành. Tại Hoa Kỳ, trong các thử nghiệm mù đôi có placebo kiểm chứng ở nhiều
trung tâm, thấy khi uống 150 mg nizatidine vào mỗi buổi tối có làm giảm rõ ràng
mức độ tái phát vết loét tá tràng ở những người bệnh điều trị trong suốt một năm
(Bảng 3).
Bảng 3 Tỷ lệ phần trăm các vết loét tá tràng
tái phát sau 3 - 6 và 12 tháng trong các thử nghiệm mù đôi thực hiện ở Hoa Kỳ
| Tháng |
Nizatidine 150 mg một lần lúc đi ngủ tối |
Placebo |
| 3 |
13% (28/208)* |
40% (82/204) |
| 6 |
24% (45/188) * |
57% (106/187) |
| 12 |
34% (57/166) * |
64% (112/175) |
* P < 0,001 so với placebo
3. Loét dạ dày lành tính tiến triển :
Tại Châu Âu, trong các nghiên cứu mù đôi có so
sánh kiểm chứng tại nhiều trung tâm, người bệnh được chọn ngẫu nhiên và uống 150
mg nizatidine mỗi lần, dùng 2 lần trong 24 giờ, hoặc 300 mg nizatidine vào mỗi
buổi tối, thấy kết quả như sau (Bảng 4) :
Bảng 4 Hiệu quả chữa lành vết loét dạ dày
lành tính
| Tuần |
Nizatidine 150 mg, ngày 2 lần |
Nizatidine 300 mg vào mỗi buổi tối |
| (Số bệnh nhân = 80) |
(Số bệnh nhân = 89) |
| 4 |
66% |
65% |
| 8 |
90% |
87% |
Tỷ lệ chữa lành vết loét ở cả hai nhóm sau khi
uống nizatidine không khác nhau về mặt thống kê. Có 68 -76% bệnh nhân hết triệu
chứng sau 4 tuần điều trị trong các nghiên cứu mù đôi có kiểm chứng ở nhiều
trung tâm tiến hành tại Hoa Kỳ và Canada. Nội soi chẩn đoán các vết loét dạ dày
lành tính đã lành đáng kể (p < 0,05) ở người bệnh dùng nizatidine (300 mg mỗi
tối ; hoặc 150 mg mỗi lần, ngày 2 lần) nhanh hơn nhiều so với người dùng
placebo. Số người bệnh được điều trị với placebo đã phải ngừng lại do không có
hiệu quả nhiều hơn là ở nhóm điều trị bằng nizatidine (p <= 0,01).
4. Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GERD)
:
Trong các thử nghiệm lâm sàng mù đôi có placebo
kiểm chứng, thấy nizatidine có hiệu quả hơn placebo trong bệnh viêm thực quản
được chẩn đoán qua nội soi và trong điều trị viêm thực quản có loét và viêm xước
niêm mạc (Bảng 5). Ngoài ra, nizatidine làm bớt chứng ợ nóng nhiều hơn. Người
bệnh dùng nizatidine ít phải dùng các chất chống acid hơn là người bệnh điều trị
với placebo.
Bảng 5 Đáp ứng lành bệnh viêm thực quản có
loét và viêm xước niêm mạc do nizatidine
| |
Nizatidine 150 mg mỗi lần, 2
lần/24 giờ |
Nizatidine 300 mg mỗi lần, 2
lần/24 giờ |
Placebo* |
| Số bệnh nhân |
Lành vết loét/Có thể đánh giá được |
Số bệnh nhân |
Lành vết loét/Có thể đánh giá được |
Số bệnh nhân |
Lành vết loét/Có thể đánh giá được |
| Nghiên cứu 1 |
| tuần 6 |
82 |
14 (17%)** |
88 |
12 (14%) |
88 |
7 (8%) |
| tuần 3 |
80 |
28 (35%)** |
82 |
28 (34%)** |
77 |
16 (21%) |
| Nghiên cứu 2 |
| tuần 6 |
91 |
21 (23%)*** |
|
|
75 |
10 (13%) |
| tuần 12 |
82 |
29 (35%)** |
|
|
59 |
12 (20%) |
| Nghiên cứu 3 |
| tuần 6 |
|
|
33 |
9 (27%) |
28 |
5 (18%) |
| tuần 12 |
|
|
33 |
12 (36%) |
28 |
6 (21%) |
* Tất cả các so sánh đối với placebo đều là nghiên cứu một chiều
** P < 0,05 so với placebo
*** P = 0,056 so với placebo
CHỈ ĐỊNH