|
CECLOR
ELI LILLY
viên nang 250 mg :
hộp 12 viên.
bột pha hỗn dịch uống 125
mg/5 mL : lọ 60 mL.
bột pha hỗn dịch uống 250
mg/5 mL : lọ 60 mL.
bột pha hỗn dịch uống 125
mg/túi : hộp 12 túi.
THÀNH PHẦN
| cho 1 viên
nang |
| Cefaclor |
250 mg |
| cho 1 túi |
| Cefaclor |
125 mg |
DƯỢC LỰC
Cefaclor là kháng sinh bán tổng hợp, thuộc nhóm
cephalosporin, dùng đường uống. Tên hóa học của Ceclor là
3-chloro-7-D-(2-phenylglycinamido)-3-cephem-4-carboxylic acid monohydrate.
Phổ kháng khuẩn : Các thử nghiệm in vitro cho
thấy rằng cephalosporin có tác dụng diệt khuẩn do ức chế quá trình tổng hợp
thành tế bào. Trong khi các thử nghiệm in vitro đã chứng minh được tính nhạy cảm
của phần lớn các chủng vi khuẩn sau đây với cefaclor, thì hiệu quả lâm sàng đối
với các chủng không được đề cập trong phần Chỉ định lại chưa được biết.
Vi khuẩn hiếu khí, gram dương
Staphylococci, bao gồm chủng tạo men
penicillinase, coagulase dương tính, coagulase âm tính (khi được thử nghiệm in
vitro), có biểu hiện đề kháng chéo giữa cefaclor và methicillin.
Streptococcus pneumoniae
Streptococcus pyogenes
Vi khuẩn hiếu khí, gram âm
Citrobacter diversus
Escherichia coli
Hemophilus influenzae, bao gồm các chủng tạo
men b-lactamase,
kháng ampicillin.
Klebsiella spp.
Moraxella (Branhamella) catarrhalis
Neisseria gonorrhoeae
Proteus mirabilis
Vi khuẩn kỵ khí
Bacteroides spp. (ngoại trừ Bacteroides
fragilis).
Peptococcus niger
Peptostreptococcus spp.
Propionibacteria acnes
Chú ý : Staphylococci kháng methicillin và phần
lớn các chủng enterococci [Enterococcus faecalis (trước đây gọi là Streptococcus
faecalis) và Enterococcus faecium (trước đây gọi là Streptococcus faecium)] đề
kháng với cefaclor và các loại cephalosporin khác. Cefaclor không tác động trên
phần lớn các chủng Enterobacter spp, Serratia spp, Morganella morganii, Proteus
vulgaris và Providencia rettgeri. Cefaclor không tác động trên Pseudomonas spp
hoặc Acinetobacter spp.
Kháng sinh đồ
Phương pháp khuếch tán : Các phương pháp
định lượng đòi hỏi phải đo đường kính vòng vô khuẩn, cho phép ước lượng chính
xác nhất tính nhạy cảm của vi khuẩn với các kháng sinh. Phương pháp chuẩn mực
này sử dụng đĩa tẩm 30 mg
cefaclor để đánh giá tính nhạy cảm của vi khuẩn. Biện luận kết quả dựa vào kết
quả đọc đường kính vòng vô khuẩn và nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của cefaclor.
Đọc kết quả kháng sinh đồ, dùng đĩa tẩm 30
mg
cefaclor, nên biện luận dựa theo những tiêu chuẩn sau đây :
| Đường kính vòng vô khuẩn (mm) |
Đọc kết quả |
| >= 18 |
(S) Nhạy cảm |
| 15 - 17 |
(I) Trung gian |
| <= 14 |
(R) Đề kháng |
Khi thử nghiệm* với H. influenzae
| Đường kính vòng vô khuẩn (mm) |
Đọc kết quả |
| >= 20 |
(S) Nhạy cảm |
| 17 - 19 |
(I) Trung gian |
| <= 16 |
(R) Đề kháng |
* Thử nghiệm này sử dụng môi trường
Haemophilus test medium (HTM).
Mặc dù phổ kháng khuẩn của cefaclor, về tính chất tương tự
như phổ của cephalothin và các cephalosporin thế hệ thứ 1 khác, nhưng tác động
của cefaclor trên H. influenzae mạnh hơn nhiều so với các cephalosporin thế hệ
thứ 1. Vì vậy có thể dùng đĩa tẩm 30
mg
cefaclor để xác định tính nhạy cảm của H. influenzae theo phương pháp được Ủy
Ban Quốc Gia về các Chuẩn mực Phòng Thí Nghiệm Lâm Sàng Hoa Kỳ (NCCLS) mô tả.
Kết quả "nhạy cảm" có nghĩa là vi khuẩn gây
bệnh có thể bị ức chế với nồng độ kháng sinh đạt được trong máu. Kết quả "trung
gian" gợi ý rằng vi khuẩn nhạy cảm khi dùng liều cao hoặc khi nơi bị nhiễm khuẩn
là các mô và dịch có nồng độ kháng sinh cao. Kết quả "đề kháng" cho thấy nồng độ
kháng sinh đạt được không thể ức chế được vi khuẩn và nên chọn cách điều trị
khác.
Các phương pháp tiêu chuẩn đòi hỏi phải sử dụng các chủng vi
khuẩn chứng trong phòng thí nghiệm. Đĩa tẩm 30
mg
cefaclor phải tạo ra đường kính vòng vô khuẩn như sau :
| Vi khuẩn |
Đường kính vòng vô khuẩn (mm) |
| E. coli ATCC 25922 |
23 - 27 |
| S. aureus ATCC 25923 |
27 - 31 |
| H. influenzae ATCC 49766* |
25 - 31 |
* Thử nghiệm này sử dụng môi trường Haemophilus test
medium (HTM).
Phương pháp pha loãng : Phương pháp pha loãng chuẩn mực (pha loãng
trong plate, pha loãng trong thạch) hoặc phương pháp tương đương, dùng bột
cefaclor. Trị số MIC có được nên biện luận theo tiêu chuẩn sau :
| MIC (mg/mL) |
Đọc kết quả |
| <= 8 |
Nhạy cảm |
| 16 |
Trung gian |
| >= 32 |
Kháng |
Giống như kỹ thuật khuếch tán chuẩn mực, kỹ thuật pha loãng đòi hỏi phải sử
dụng các chủng vi khuẩn chứng trong phòng thí nghiệm. Bột cefaclor chuẩn mực
phải cho kết quả MIC với các trị số sau :
| Vi khuẩn |
MIC (mg/mL) |
| S. aureus ATCC 29213 |
1 - 4 |
| E. coli ATCC 25922 |
1 - 4 |
| E. faecalis ATCC 29212 |
> 32 |
| H. influenzae ATCC 49766* |
1 - 4 |
*Thử nghiệm pha loãng trong plate sử dụng môi trường Haemophilus Test
Medium (HTM).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Cefaclor được hấp thu rất tốt khi uống ở tình
trạng đói. Tổng số thuốc được hấp thu giống nhau dù bệnh nhân dùng lúc đói hay
lúc no, tuy nhiên khi dùng chung với thức ăn nồng độ đỉnh chỉ đạt được 50%-70%
so với nồng độ đỉnh đạt được khi bệnh nhân nhịn đói và đạt được chậm hơn khoảng
45-60 phút. Khi uống ở tình trạng đói, sau khi dùng liều 250 mg, 500 mg, 1 g,
nồng độ đỉnh trung bình trong huyết thanh tương ứng là 7, 13, và 23 mg/L, đạt
được sau 30-60 phút. Khoảng 60-85% lượng thuốc được thải trừ dưới dạng không đổi
trong nước tiểu trong vòng 8 giờ, một phần lớn thuốc được thải trừ trong 2 giờ
đầu. Trong khoảng 8 giờ này, nồng độ đỉnh trong nước tiểu tương ứng sau khi uống
250 mg, 500 mg, 1 g đạt được là 600, 900, và 1.900 mg/L. Thời gian bán hủy trung
bình trong huyết thanh ở người bình thường khoảng 1 giờ (từ 0,6 đến 0,9). Ở bệnh
nhân có chức năng thận suy giảm, thời gian bán hủy thường kéo dài hơn một chút.
Ở người suy giảm hoàn toàn chức năng thận, thời gian bán hủy trong huyết thanh
của dạng thuốc ban đầu là 2,3 đến 2,8 giờ. Đường thải trừ thuốc ở bệnh nhân suy
thận nặng chưa được xác định. Lọc máu làm giảm thời gian bán hủy của thuốc
khoảng 25-30%.
CHỈ ĐỊNH
Cefaclor được chỉ định cho các nhiễm khuẩn do
các vi khuẩn nhạy cảm sau đây:
- Viêm tai giữa do S. pneumoniae, H.
influenzae, Staphylococci, S. pyogenes, (Streptococcus beta tán huyết nhóm A) và
M. catarrhalis.
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, kể cả viêm
phổi, gây ra do S. pneumoniae, H. influenzae, S. pyogenes (Streptococcus beta
tán huyết nhóm A) và M. catarrhalis.
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, kể cả viêm
họng và viêm amiđan gây ra do S. pyogenes (Streptococcus beta tán huyết nhóm A)
và M. catarrhalis.
Lưu ý : Penicillin là thuốc thường được chọn để
điều trị và phòng ngừa nhiễm khuẩn do Streptococcus, gồm cả điều trị dự phòng
thấp khớp. Hội Tim Hoa Kỳ đã đề nghị sử dụng amoxillin như là một thuốc chuẩn
mực để dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trong các thủ thuật nha khoa, các
thủ thuật tại miệng và đường hô hấp trên, penicillin V có thể được chấp nhận là
thuốc thay thế để phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết do Streptococcus ở đường tai mũi
họng ; tuy nhiên hiện nay chưa có các số liệu chắc chắn về hiệu quả của cefaclor
trong phòng ngừa thấp khớp hoặc viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu bao gồm viêm bể thận và
viêm bàng quang do E. coli, P. mirabilis, Klebsiella spp, và tụ cầu coagulase âm
tính.
Lưu ý : Cefaclor có hiệu quả trong nhiễm khuẩn
tiết niệu kể cả cấp tính lẫn mạn tính.
- Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da do S. aureus và
S. pyogenes (Streptococcus beta tán huyết nhóm A)
- Viêm xoang
- Viêm niệu đạo do lậu cầu
Nên nuôi cấy và làm kháng sinh đồ để xác định
tính nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh với cefaclor.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Không dùng thuốc cho bệnh nhân có tiền sử mẫn
cảm với kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Trước khi áp dụng phương pháp điều trị với cefaclor, cần hỏi
kỹ xem trước đây bệnh nhân có tiền sử phản ứng quá mẫn với cefaclor,
cephalosporin, penicillin hoặc các thuốc khác không. Nếu phải dùng cefaclor cho
các bệnh nhân nhạy cảm với penicillin, nên cẩn thận vì đã ghi nhận có phản ứng
dị ứng chéo bao gồm phản ứng choáng phản vệ giữa các kháng sinh nhóm
b-lactam.
Nếu có phản ứng dị ứng với cefaclor, nên ngưng
thuốc. Khi cần thiết, phải điều trị bệnh nhân với các loại thuốc thích hợp : các
amin co mạch, kháng histamin hoặc corticosteroid.
Các kháng sinh bao gồm cefaclor nên được dùng
cẩn thận cho các bệnh nhân đã có một dạng dị ứng nào đó, đặc biệt là dị ứng với
thuốc.
Viêm kết tràng giả mạc đã được báo cáo xảy ra
với hầu hết các kháng sinh phổ rộng (bao gồm các macrolide, các penicillin bán
tổng hợp, và các cephalosporin). Vì vậy việc cân nhắc chẩn đoán bệnh nhân bị
tiêu chảy khi dùng kháng sinh rất quan trọng.
Chứng viêm kết tràng này có thể từ nhẹ đến nặng
đe dọa tính mạng của bệnh nhân. Thể nhẹ thường chỉ cần ngưng thuốc. Thể trung
bình đến nặng cần đến các biện pháp điều trị thích hợp.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Tổng quát : Sử dụng cefaclor dài ngày có
thể làm phát triển quá mức các chủng không nhạy cảm. Cần theo dõi bệnh nhân cẩn
thận. Nếu bị bội nhiễm, cần có các biện pháp điều trị thích hợp.
Đã có báo cáo cho thấy phản ứng Coombs trực
tiếp dương tính có thể xảy ra trong quá trình điều trị với các kháng sinh
cephalosporin. Cần biết rằng kết quả dương tính có thể là do thuốc, thí dụ trong
các nghiên cứu về huyết học hay trong các test thử phản ứng chéo khi cần truyền
máu có sử dụng antiglobulin ở các vị trí thứ yếu, hoặc áp dụng thử nghiệm Coombs
trên trẻ sơ sinh có mẹ dùng các kháng sinh cephalosporin trước khi sinh.
Cẩn thận khi dùng cefaclor cho bệnh nhân có
chức năng thận suy giảm nặng. Vì thời gian bán hủy của cefaclor ở bệnh nhân vô
niệu là 2,3-2,8 giờ, nên thường không điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận
nặng hay trung bình. Vì chưa có nhiều kinh nghiệm lâm sàng trong việc sử dụng
cefaclor cho những trường hợp này, nên cần theo dõi trên lâm sàng và kết quả xét
nghiệm thật cẩn thận.
Nên thận trọng khi kê toa kháng sinh, bao gồm
cephalosporin cho bệnh nhân có bệnh đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh viêm kết
tràng.
Sử dụng cho trẻ em : Tính an toàn và
hiệu quả của cefaclor ở trẻ em dưới 1 tháng tuổi chưa được biết.
Tác động của thuốc trên các xét nghiệm cận
lâm sàng : Bệnh nhân dùng cefaclor có thể có dương tính giả đối với xét
nghiệm glucose nước tiểu khi thử với dung dịch Benedict và Fehling, viên
Clinitest, nhưng sẽ không có dương tính giả khi dùng Testape (Glucose Enzymatic
Test Strip, USP, Lilly).
Có một vài báo cáo cho thấy tác dụng kháng đông
tăng khi dùng đồng thời cefaclor và chất kháng đông đường uống (xem phần Tác
dụng ngoại ý).
Cũng như các kháng sinh nhóm
b-lactam
khác, probenecid ức chế sự bài tiết cefaclor qua đường thận.
Tính gây ung thư, đột biến, ảnh hưởng khả
năng sinh sản : Chưa có các nghiên cứu để xác định tính gây ung thư và đột
biến. Các nghiên cứu về khả năng sinh sản cho thấy không có bằng chứng dấu hiệu
tổn hại khả năng sinh sản.
LÚC CÓ THAI
Các nghiên cứu về sinh sản thực hiện ở chuột
nhắt và chuột cống với liều gấp 12 lần liều dùng cho người và ở chồn sương với
liều gấp 3 lần liều tối đa cho người không thấy có dấu hiệu tổn thương khả năng
sinh sản hay nguy hại cho bào thai do cefaclor. Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu kiểm soát chặt chẽ trên phụ nữ có thai còn chưa đầy đủ. Vì các nghiên cứu
trên súc vật không phải luôn luôn tiên đoán được đáp ứng của người, chỉ nên dùng
thuốc này trên phụ nữ có thai nếu thật cần thiết.
Chuyển dạ và sinh nở : Ảnh hưởng của
cefaclor đối với chuyển dạ và sinh nở chưa được biết.
LÚC NUÔI CON BÚ
Một lượng nhỏ cefaclor được tìm thấy trong sữa
mẹ sau khi dùng thuốc với liều 500 mg. Nồng độ trung bình trong sữa là 0.18,
0.21, 0.16 mg/L tương ứng với các thời điểm 2, 3, 4 và 5 giờ. Sau 1 giờ nồng độ
trong sữa rất ít, chỉ ở dạng vết. Ảnh hưởng trên trẻ bú mẹ chưa được biết. Cẩn
thận khi dùng cefaclor ở các bà mẹ đang cho con bú.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Sau đây là những tác dụng phụ có liên quan đến
việc sử dụng cefaclor.
Các phản ứng quá mẫn đã được báo cáo xuất hiện
trong khoảng 1,5% bệnh nhân, dưới dạng nổi ban dạng sởi (1/100 trường hợp).
Ngứa, mề đay, phản ứng Coombs dương tính xảy ra với tỉ lệ thấp hơn chưa đến
1/200 trường hợp cho mỗi loại. Các trường hợp xuất hiện phản ứng giống bệnh
huyết thanh đã được báo cáo trong một vài trường hợp sử dụng cefaclor. Các đặc
trưng của phản ứng này gồm hồng ban đa dạng, nổi ban và các biểu hiện khác trên
da đi kèm với viêm khớp/ đau khớp, có sốt hoặc không sốt. Các phản ứng này khác
với bệnh huyết thanh cổ điển ở chỗ hiếm khi kèm theo nổi hạch bạch huyết và
protein niệu, không có phức hợp miễn dịch trong máu, và không để lại di chứng.
Đôi khi có thể có từng triệu chứng riêng lẽ, nhưng đó không phải là biểu hiện
của phản ứng giống bệnh huyết thanh. Trong khi các cuộc nghiên cứu kỹ càng thêm
nữa đang được tiến hành, phản ứng giống bệnh huyết thanh hình như là do phản ứng
quá mẫn, và thường xảy ra hơn trong và sau khi điều trị cefaclor lần 2 (hoặc
những lần sau nữa). Những phản ứng này được báo cáo thường thấy ở trẻ em hơn là
người lớn, với tỷ lệ từ 1/200 (0,5%) trong một thử nghiệm tập trung đến 2/8346
(0,024%) trong toàn bộ các thử nghiệm lâm sàng (tỷ lệ ở trẻ em trong các thử
nghiệm lâm sàng là 0,055%) đến 1/38000 (0,003%) trong các báo cáo ngẫu nhiên.
Các dấu hiệu và triệu chứng thường xảy ra một vài ngày sau khi bắt đầu điều trị
và giảm dần trong vài ngày sau khi ngừng thuốc. Cũng có trường hợp bệnh nhân
phải nhập viện vì những phản ứng này nhưng thời gian nằm viện thường ngắn (trung
bình từ 2 đến 3 ngày, theo báo cáo của các nghiên cứu theo dõi sau khi đưa thuốc
ra thị trường). Ở những bệnh nhân cần phải nhập viện, các triệu chứng có thể từ
nhẹ đến nặng, phần lớn các triệu chứng nặng xảy ra ở trẻ em. Thuốc kháng
histamine và glucocorticoid giúp giải quyết các dấu hiệu và triệu chứng. Không
có báo cáo về các di chứng trầm trọng.
Các phản ứng quá mẫn nặng hơn, bao gồm hội
chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc và phản ứng phản vệ, hiếm khi
xảy ra. Triệu chứng giống choáng phản vệ có thể biểu hiện bằng các phản ứng
riêng lẻ bao gồm phù mạch, mệt mỏi, phù (phù mặt và chi), khó thở, dị cảm, ngất,
hoặc giãn mạch. Phản ứng phản vệ có thể xảy ra phổ biến hơn ở các bệnh nhân có
tiền sử dị ứng penicillin. Các phản ứng quá mẫn có thể kéo dài trong vài tháng
nhưng rất hiếm.
Triệu chứng tiêu hóa xảy ra trong khoảng 2,5%
bệnh nhân, thường là tiêu chảy (1/70 trường hợp). Chứng viêm kết tràng giả mạc
có thể xuất hiện cả trong và sau quá trình điều trị bằng thuốc kháng sinh. Buồn
nôn và nôn ít khi xảy ra. Cũng giống như một số penicillin và cephalosporin
khác, viêm gan nhẹ và vàng da ứ mật cũng được báo cáo xảy ra rất ít.
Các tác dụng khác cho là liên quan đến trị liệu
bằng kháng sinh bao gồm chứng tăng bạch cầu ưa eosine (1/50 bệnh nhân), ngứa bộ
phận sinh dục, viêm âm đạo (< 1/100 bệnh nhân), hiếm khi có giảm tiểu cầu và
viêm thận kẽ có hồi phục.
Các tác dụng khác không chắc có liên quan đến
thuốc, bao gồm :
Hệ thần kinh trung ương : Tăng động thể hồi
phục, lo lắng, căng thẳng, mất ngủ, lú lẫn, tăng trương lực cơ, chóng mặt, ảo
giác, ngủ gà, có được báo cáo nhưng rất ít.
Những bất thường tạm thời về các xét nghiệm lâm
sàng cũng đã được báo cáo mặc dầu nguyên nhân chưa được xác định rõ ràng, chúng
cũng được nêu ra như những thông tin để bác sĩ tham khảo :
Gan : tăng nhẹ AST (SGOT), ALT (SGPT) hoặc
phosphatase kiềm (1/40).
Cơ quan tạo máu : Giống như các kháng sinh họ
b-lactam
khác, tăng tế bào lympho huyết, giảm bạch cầu tạm thời, và hiếm hơn thiếu máu do
tán huyết, thiếu máu bất sản, mất bạch cầu hạt, giảm bạch cầu trung tính có thể
hồi phục có ý nghĩa trên lâm sàng.
Cũng có những báo cáo về sự gia tăng thời gian
prothrombin có hoặc không có xuất huyết lâm sàng ở bệnh nhân dùng đồng thời
cefaclor và coumadin.
Thận : tăng nhẹ BUN hay creatinine huyết thanh
(ít hơn 1/500) hoặc kết quả nước tiểu bất thường (ít hơn 1/200).
Một số cephalosporin có thể gây bộc phát cơn
động kinh, đặc biệt ở những bệnh nhân suy thận khi không được giảm liều. Nếu
xuất hiện cơn động kinh do dùng thuốc, nên ngưng thuốc. Có thể điều trị chống co
giật nếu trên lâm sàng thấy cần thiết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Cefaclor được sử dụng bằng đường uống.
Người lớn : Liều thông thường là 250 mg
mỗi 8 giờ. Đối với viêm phổi và viêm phế quản, dùng 250 mg, 3 lần mỗi ngày. Đối
với viêm xoang, dùng 250 mg, 3 lần mỗi ngày trong 10 ngày. Đối với nhiễm khuẩn
trầm trọng hơn (như viêm phổi) hoặc nhiễm khuẩn do các vi khuẩn khác ít nhạy cảm
hơn, có thể tăng liều gấp đôi. Liều 4g/ngày đã được dùng một cách an toàn cho
người bình thường trong vòng 28 ngày, tuy nhiên liều tổng cộng hàng ngày không
nên vượt quá lượng này. Để điều trị viêm niệu đạo cấp do lậu cầu ở nam và nữ,
dùng một liều duy nhất 3 g, phối hợp với 1 g probenecid.
Trẻ em : Liều thông thường là 20
mg/kg/ngày, chia ra mỗi 8 giờ. Đối với viêm phế quản và viêm phổi, dùng liều 20
mg/kg/ngày, chia làm 3 lần. Đối với các nhiễm khuẩn trầm trọng hơn, viêm tai
giữa, và nhiễm khuẩn do vi khuẩn ít nhạy cảm nên dùng liều 40 mg/kg/ngày chia
làm nhiều lần uống. Liều tối đa là 1 g/ngày.
Cách dùng cefaclor dạng dung dịch treo :
| Liều 20 mg/kg/ngày :
|
| Ghi chú : muỗng café (mcf) |
| Trọng lượng trẻ |
Loại 125 mg/5 mL |
Loại 250 mg/5 mL |
| 9 kg |
1/2 mcf, 3 lần/ngày |
|
| 18 kg |
1 mcf, 3 lần/ngày |
1/2 mcf, 3 lần/ngày |
| Liều 40 mg/kg/ngày : |
| Trọng lượng trẻ |
Loại 125 mg/5 mL |
Loại 250 mg/5 mL |
| 9 kg |
1 mcf, 3 lần/ngày |
1/2 mcf, 3 lần/ngày |
| 18 kg |
|
1 mcf, 3 lần/ngày |
Điều trị viêm tai giữa và viêm họng, tổng liều
hàng ngày có thể chia làm 2 lần, cách 12 giờ/lần theo cách dùng sau :
| Viêm họng : 20 mg/kg/ngày |
| Trọng lượng trẻ |
Loại 187 mg/5 mL |
Loại 375 mg/5 mL |
| 9 kg |
1/2 mcf, 2 lần/ngày |
|
| 18 kg |
1 mcf, 2 lần/ngày |
1/2 mcf, 2 lần/ngày |
| Viêm tai giữa : 40 mg/kg/ngày |
| 9 kg |
1 mcf, 2 lần/ngày |
1/2 mcf, 2 lần/ngày |
| 18 kg |
|
1 mcf, 2 lần/ngày |
Cefaclor có thể dùng cho bệnh nhân suy thận,
trong trường hợp này thường không cần điều chỉnh liều (xin xem phần Thận trọng
lúc dùng).
Trong điều trị nhiễm khuẩn do Streptococcus
beta tán huyết, nên dùng Cefaclor ít nhất 10 ngày.
QUÁ LIỀU
Dấu hiệu và triệu chứng : Các triệu
chứng ngộ độc khi dùng cefaclor có thể gồm : buồn nôn, nôn, đau thượng vị, tiêu
chảy. Mức độ đau thượng vị và tiêu chảy phụ thuộc vào liều lượng. Nếu có thêm
các triệu chứng khác, có thể là do phản ứng thứ phát của một bệnh tiềm ẩn, của
phản ứng dị ứng hay tác động của chứng ngộ độc khác kèm theo.
Điều trị : Để điều trị quá liều, cần cân
nhắc đến khả năng quá liều của nhiều loại thuốc, tương tác giữa các loại thuốc,
dược động học bất thường của bệnh nhân. Ngoại trừ trường hợp uống liều gấp 5 lần
liều bình thường, không cần thiết phải áp dụng biện pháp rửa dạ dày.
Bảo vệ đường hô hấp của bệnh nhân, hỗ trợ thông
khí và truyền dịch. Theo dõi cẩn thận và duy trì các dấu hiệu sinh tồn của bệnh
nhân, khí máu, chất điện giải trong huyết thanh v.v. Có thể làm giảm sự hấp thu
thuốc ở đường tiêu hóa bằng than hoạt tính. Trong nhiều trường hợp, biện pháp
này có hiệu quả hơn gây nôn hoặc rửa dạ dày. Cân nhắc xem nên dùng than hoạt
tính thay cho rửa dạ dày hay phải kết hợp cả hai. Dùng nhiều liều liên tiếp than
hoạt tính có thể làm gia tăng sự đào thải thuốc đã được hấp thu. Cần bảo vệ
đường hô hấp của người bệnh khi áp dụng phương pháp rửa dạ dày hay dùng than
hoạt tính. Các biện pháp khác như dùng thuốc lợi tiểu mạnh, thẩm phân phúc mạc,
lọc máu, thẩm tách máu bằng than hoạt, chưa được xác định là có hiệu quả trong
điều trị quá liều cefaclor.
BẢO QUẢN
Bảo quản thuốc ở nhiệt độ phòng, 59o-86oF
(15o-30oC).
Nên cất thuốc ở dạng dung dịch treo đã pha
trong tủ lạnh. Vặn nắp chặt và lắc kỹ trước khi dùng. Có thể cất giữ thuốc trong
14 ngày mà hiệu lực giảm không đáng kể. Sau 14 ngày, bỏ phần thuốc còn thừa đi.
|