mg/mL
trong thời gian dài. Nồng độ cặn tăng cao (trên 2
mg/mL)
chứng tỏ thuốc tích tụ trong mô. Sự tích lũy thuốc, tuổi cao, và liều tăng dần
là những yếu tố góp phần gây độc tính trên tai và thận. Rất cần thiết theo dõi
sát nồng độ trong huyết thanh ở bệnh nhân có chức năng thận suy giảm.
Cần xác định nồng độ thuốc trong huyết thanh
sau 2 hoặc 3 liều dùng, để điều chỉnh liều khi cần thiết, và nên đánh giá tiếp
cách 3-4 ngày 1 lần trong thời gian điều trị. Trong trường hợp có biểu hiện thay
đổi chức năng thận, nên đo nồng độ thuốc trong huyết thanh thường xuyên hơn, và
điều chỉnh liều hoặc thời biểu dùng thuốc dựa theo hướng dẫn trong phần Liều
lượng.
Để đo nồng độ đỉnh, nên lấy máu khoảng 30 phút
sau khi truyền tĩnh mạch hoặc 1 giờ sau khi tiêm bắp. Để đo nồng độ cặn, nên lấy
máu sau khi tiêm 8 giờ hoặc ngay trước khi dùng liều tiếp theo. Thời điểm lấy
máu này chỉ là khuyến cáo, và có thể thay đổi tùy theo kinh nghiệm thực hành.
Tuy nhiên điều quan trọng là nên nhất quán trong suốt quá trình điều trị đối với
từng bệnh nhân, trừ phi chương trình liều lượng dược động học được vi tính hóa
có sẵn ở cơ sở điều trị. Đo nồng độ trong huyết thanh rất có ích, giúp theo dõi
điều trị bệnh nhân nặng có thay đổi chức năng thận, ở bệnh nhân bị nhiễm vi
khuẩn ít nhạy cảm hơn, hoặc ở bệnh nhân dùng liều tối đa.
Dùng liều cao tobramycin (40 mg/kg) gây ức chế
thần kinh cơ và liệt hô hấp ở mèo đã được báo cáo. Lưu ý đến khả năng ngưng thở
kéo dài hay thứ phát khi dùng tobramycin cho bệnh nhân gây mê, đang dùng các
thuốc ức chế thần kinh cơ như succinylcholine, tubocurarine, decamethonium, hay
khi dùng cho bệnh nhân được truyền một lượng máu lớn có citrat. Nếu nghẽn thần
kinh cơ xảy ra, có thể điều trị bằng muối calcium.
Đã có báo cáo có dị ứng chéo giữa các
aminoglycoside.
Dược động học thay đổi ở bệnh nhân bỏng diện
rộng có thể làm giảm nồng độ aminoglycoside huyết thanh, vì vậy khi điều trị
bằng Nebcin cho những bệnh nhân như vậy cần phải đo nồng độ huyết thanh để xác
định liều dùng thích hợp.
Ở bệnh nhân cao tuổi chức năng thận có thể
giảm, nhưng không biểu hiện rõ ở những kết quả xét nghiệm thường qui như BUN hay
creatinine huyết thanh. Nên xác định độ thanh thải creatinine vì sẽ chính xác
hơn. Cần theo dõi thật chặt chẽ chức năng thận khi điều trị với aminoglycoside ở
các bệnh nhân này.
Tỉ lệ độc trên thận gia tăng khi dùng đồng thời
aminoglycoside và cephalosporin đã được báo cáo.
Cẩn thận khi dùng aminoglycoside ở bệnh nhân bị
bệnh ở hệ cơ, như bệnh nhược cơ, bệnh Parkinson, vì có thể làm tình trạng yếu cơ
nặng thêm, do thuốc tác dụng tương tự curare ở nơi tiếp giáp thần kinh cơ.
Aminoglycoside có thể được hấp thu với số lượng
đáng kể khi dùng ở dạng tưới hay bôi tại chỗ, do đó có thể gây độc với thận, và
thần kinh.
Aminoglycoside dùng dưới kết mạc và/hoặc trong
mắt chưa được chấp thuận. Đã có báo cáo aminoglycoside, bao gồm tobramycin, gây
hoại tử điểm vàng khi dùng bằng đường này.
Xem phần Thận trọng lúc dùng về vấn đề dùng
đồng thời với thuốc lợi tiểu mạnh, và dùng kết hợp hay kế tiếp với các thuốc độc
với thận hay độc với thần kinh khác.
Các kháng sinh loại
b-lactam
gây mất hoạt tính của tobramycin và các aminoglycoside khác đã được báo cáo in
vitro và ở các bệnh nhân suy thận nặng. Không thấy có đặc tính này ở những bệnh
nhân có chức năng thận bình thường khi tiêm bằng hai đường riêng biệt.
Điều trị với tobramycin có thể làm phát triển
quá mức các chủng vi khuẩn không nhạy cảm. Nếu có xảy ra, nên áp dụng phương
pháp điều trị thích hợp.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG