Đa số các phản ứng phụ của Ceclor CD trong các
thử nghiệm lâm sàng đều nhẹ và chỉ thoáng qua. Ngừng thuốc do các phản ứng phụ
xảy ra ở 1.7% số người bệnh. Sau đây là các phản ứng phụ được ghi nhận khi dùng
Ceclor CD trong các thử nghiệm lâm sàng. Tỷ lệ xảy ra các phản ứng thường dưới
1%.
Hệ tiêu hóa : tiêu chảy (3,4%), buồn nôn
(2,5%), nôn và khó tiêu.
Phản ứng quá mẫn : Khoảng 1,7% người
bệnh có phản ứng nổi ban, nổi mề đay và ngứa. Có gặp một trường hợp (0,03%) phản
ứng giống-bệnh-huyết-thanh trong số 3.272 người bệnh dùng Ceclor CD trong các
thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát.
Nhiều trường hợp phản ứng
giống-bệnh-huyết-thanh đã từng được ghi nhận ở người bệnh dùng cefaclor gồm các
triệu chứng như : hồng ban đa dạng, nổi mẩn và các biểu hiện ngoài da khác kèm
theo viêm khớp/đau khớp, không hoặc có sốt và khác với bệnh huyết thanh kinh
điển ở chỗ ít khi gặp bệnh lý hạch bạch huyết và protein niệu, không có phức hợp
miễn dịch lưu hành và các phản ứng này không để lại di chứng. Đôi khi có các
triệu chứng đơn thuần xảy ra nhưng không phải là phản ứng
giống-bệnh-huyết-thanh. Trong các nghiên cứu tiếp tục thêm sau đó, các phản ứng
giống-bệnh-huyết-thanh xuất hiện còn là do quá mẫn cảm và thường dễ xảy ra trong
hoặc sau khi dùng liệu trình cefaclor lần thứ hai (hoặc kế tiếp). Các phản ứng
này thường xảy ra ở trẻ em hơn là ở người lớn và biến thiên từ 1 trên 200 người
bệnh (0,5%) trong một nghiên cứu khu trú ; 2 trên 8346 người bệnh (0,024%) trong
các thử nghiệm lâm sàng rộng rãi (với tỉ lệ xảy ra ở trẻ em là 0,055%) và 1 trên
38000 người bệnh (0,003%) theo các báo cáo ngẫu nhiên. Các dấu hiệu và triệu
chứng lâm sàng thường xảy ra vài ngày sau khi bắt đầu điều trị và giảm dần trong
vòng vài ngày sau khi ngừng thuốc ; các phản ứng này hiếm khi cần phải nhập
viện, thường chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn (thời gian nằm viện trung bình
2-3 ngày, dựa trên những kết quả khảo sát sau khi đưa thuốc vào thị trường). Đối
với những trường hợp cần vào viện, các triệu chứng thường thấy từ nhẹ đến nặng
và thường nặng hơn đối với trẻ em. Các thuốc kháng histamine và corticoid tỏ ra
có hiệu quả trong xử trí các dấu hiệu và triệu chứng này. Không có di chứng trầm
trọng nào được ghi nhận.
Hệ tạo máu và bạch huyết : tăng bạch cầu
ưa eosin.
Hệ tiết niệu sinh dục : Nhiễm candida âm
đạo (2,5%) và viêm âm đạo (1,7%).
Sau dây là các phản ứng phụ gặp ở người bệnh
dùng Ceclor CD ; chưa rõ có phải do thuốc gây ra hay không :
Hệ thần kinh trung ương : nhức đầu,
chóng mặt và ngủ gà.
Gan : Tăng thoáng qua SGOT, SGPT và
phosphatase kiềm.
Thận : Tăng thoáng qua BUN hoặc
creatinine.
Các xét nghiệm : Giảm tiểu cầu thoáng
qua, giảm bạch cầu, tăng bạch cầu limphô, giảm bạch cầu đa nhân trung tính và
kết quả phân tích nước tiểu bất thường.
Ngoài các phản ứng phụ gặp ở người bệnh dùng
Ceclor CD được liệt kê ở trên, dưới đây là các phản ứng phụ và những thay đổi
xét nghiệm ghi nhận được ở người bệnh dùng cefaclor :
Hồng ban đa dạng, sốt, phản ứng phản vệ (thường
dễ xảy ra ở người bệnh có tiền sử dị ứng penicillin), hội chứng Stevens-Johnson,
thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính và ngứa bộ phận sinh dục. Các triệu chứng
viêm ruột kết màng giả có thể xuất hiện trong hoặc sau khi điều trị bằng kháng
sinh. Các phản ứng dạng phản vệ có thể biểu hiện qua các triệu chứng riêng lẻ
gồm phù mạch, suy nhược, phù (ở mặt và chi), khó thở, dị giác, ngất hoặc dãn
mạch.
Hiếm khi các triệu chứng quá mẫn kéo dài trong
vài tháng.
Các phản ứng sau đây rất ít khi gặp ở người
bệnh dùng cefaclor :
Hoại tử biểu bì nhiễm độc, viêm thận kẽ có hồi
phục, rối loạn chức năng gan bao gồm ứ mật, thời gian prothrombin kéo dài ở
người bệnh dùng cefaclor cùng với warfarin, hưng phấn có hồi phục, căng thẳng,
mất ngủ, lú lẫn, tăng trương lực cơ, thiếu máu bất sản, tăng bạch cầu hạt và
thiếu máu huyết tán.
Ngoài ra còn gặp các phản ứng như ở những người dùng kháng
sinh nhóm
b-lactam
bao gồm :
Viêm ruột kết, rối loạn chức năng thận và bệnh
lý thận do nhiễm độc.
Một vài kháng sinh nhóm
b-lactam
có thể gây kích hoạt các cơn động kinh, nhất là ở người bị suy thận không được
giảm liều đủ mức. Nếu cơn động kinh xuất hiện liên quan đến việc dùng thuốc, nên
ngừng thuốc ngay. Có thể dùng thuốc chống động kinh khi cần thiết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Ceclor CD có thể uống lúc đói hoặc lúc no. Tuy
nhiên uống lúc no thuốc được hấp thu tốt hơn (xem Dược động học). Viên thuốc
không được cắt, nghiền nát hoặc nhai.
Liều khuyên dùng trong viêm họng, viêm amiđan,
nhiễm khuẩn da và các cấu trúc da là 375 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ. Với nhiễm
khuẩn đường tiết niệu dưới, liều khuyên dùng là 375 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ
hoặc 500 mg, dùng mỗi ngày 1 lần. Liều khuyên dùng trong viêm phế quản là 375 mg
hoặc 500 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ. Với bệnh viêm phổi, liều khuyên dùng là
750 mg, dùng 2 lần trong 24 giờ.
Trong nhiễm khuẩn do S. pyogenes (liên cầu nhóm
A), liệu trình Ceclor CD nên kéo dài ít nhất là 10 ngày.
Ceclor CD nên được bảo quản ở nhiệt độ phòng từ
15oC đến 30oC (59oF đến 86oF).
QUÁ LIỀU
Dấu hiệu và triệu chứng : Các triệu
chứng ngộ độc khi dùng quá liều Ceclor CD có thể gồm buồn nôn, nôn, đau vùng
thượng vị và tiêu chảy. Mức độ đau vùng thượng vị và tiêu chảy phụ thuộc vào
lượng thuốc đã dùng. Nếu có thêm các triệu chứng khác, có thể là do phản ứng thứ
phát của một bệnh tiềm ẩn, phản ứng dị ứng hay tác động của chứng ngộ độc khác
đi kèm.
Điều trị : Để điều trị quá liều, cần cân
nhắc đến khả năng quá liều của nhiều loại thuốc, tương tác giữa các loại thuốc,
dược động học bất thường của người bệnh.
Bảo đảm đường thở thông, hô hấp hỗ trợ và
truyền dịch. Theo dõi cẩn thận và duy trì ở mức cho phép các dấu hiệu sinh tồn,
các chất khí trong máu, các chất điện giải... Có thể làm giảm sự hấp thu thuốc
qua đường tiêu hóa bằng cách dùng than hoạt. Trong nhiều trường hợp, biện pháp
này có hiệu quả hơn là rửa ruột hoặc gây nôn. Nên cân nhắc việc dùng than hoạt
thay cho việc rửa dạ dày hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Dùng nhiều liều than
hoạt liên tiếp có thể làm gia tăng sự thải trừ các thuốc đã được hấp thu. Cần
bảo vệ đường thở của người bệnh khi áp dụng biện pháp rửa dạ dày hoặc dùng than
hoạt.
Dùng thuốc lợi niệu mạnh, thẩm phân màng bụng,
thẩm phân tách máu hoặc truyền máu tỏ ra không có hiệu quả trong xử trí quá liều
cefaclor.