- Méthyclothiazide :
Thuốc lợi tiểu thải natri thuộc nhóm thiazide
có tác dụng chủ yếu trên phần vỏ thận. Sau khi dùng liều duy nhất, tác động thải
natri thu được đáng kể sau 2 giờ, tối đa sau 6 giờ và kéo dài trong vòng 24 giờ.
- Triamtérène :
Thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, thải natri mức
độ vừa phải, tác động bằng cách ức chế chức năng trao đổi ion ở ống lượn xa, làm
giảm sự bài tiết kali, tăng bài tiết natri, chlore và bicarbonate.
Tác động này độc lập với sự hiện diện hoặc
không của aldostérone. Như thế, do có tác động thải natri, triamtérène có tác
dụng chống phù nề và nếu được sử dụng lâu dài sẽ có tác dụng hạ huyết áp.
Thời hạn tác động : tác dụng lợi tiểu xuất hiện
thường sau 1 giờ, tối đa từ giờ thứ 2 đến giờ thứ 4.
Kéo dài tác động : từ 6 đến 8 giờ, có thể lên
đến 12 giờ, đôi khi đến 24 giờ.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
- Méthyclothiazide :
Sau khi uống, thuốc lợi tiểu thiazide được hấp
thu nhanh chóng. Méthyclothiazide được đào thải chủ yếu ở thận, dưới dạng không
thay đổi, do sự lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận. Thuốc qua được hàng rào
nhau thai ; thuốc đi qua sữa mẹ yếu.
- Triamtérène :
Sau khi uống, hàm lượng tối đa trong huyết
tương đạt tới thường sau 45 đến 60 phút ; nồng độ của triamtérène sau đó được
duy trì trong khoảng 2 giờ, sau đó giảm cho đến khi xuống thấp trong khoảng 8
giờ. Một lượng nhỏ có thể được tìm thấy sau 24 giờ và đôi khi cho đến 36 giờ
sau.
Triamtérène được chuyển hóa thành
parahydroxytriamtérène, sau đó thành ester sulfurique acide của chất này.
Triamtérène được đào thải ở thận do sự lọc ở
cầu thận và bài tiết ở ống thận.
Triamtérène và các chất chuyển hóa được tìm
thấy trong nước tiểu sau 1 giờ. Triamtérène được đào thải tối đa sau 2 đến 4
giờ. Sau 24 giờ, có khoảng 20 đến 40% liều uống vào được đào thải, trong đó 60%
được đào thải trong 6 giờ đầu. Nếu ngưng thuốc sau một thời gian điều trị kéo
dài, sự đào thải trong nước tiểu vẫn tiếp tục và giảm dần cho đến 5 đến 7 ngày
sau.
Có khả năng nhuộm nước tiểu có màu xanh nhạt do
một chất chuyển hóa của triamtérène.
Triamtérène đi ngang yếu qua hàng rào nhau thai
(3% sau 1 giờ ở cừu cái).
CHỈ ĐỊNH
Triamtérène :
- Ở người tiểu đường : tình trạng tăng đường
huyết có thể làm nặng thêm nguy cơ tăng kali huyết.
- Ở bệnh nhân suy gan : có khả năng bị toan
huyết do tăng kali huyết ở người bị xơ gan. Với những bệnh nhân này, không nên
dùng triamtérène nếu natri huyết dưới 125 mEq/l. Ngoài ra, tuy là những ngoại
lệ, một vài trường hợp thiếu máu đại hồng cầu hay giảm huyết cầu toàn thể cấp
tính cũng được quan sát thấy ở những bệnh nhân này (thiếu acide folique).
Thuốc lợi tiểu thiazide :
- Theo dõi natri huyết, kali huyết và chức năng
thận, nhất là ở những bệnh nhân bị xơ gan.
- Kiểm soát đường huyết và acide urique huyết ở
những bệnh nhân tiểu đường và goutte và phải cân nhắc kỹ việc sử dụng thuốc lợi
tiểu nhóm thiazide ở những bệnh nhân này.
- Các thuốc lợi tiểu thiazide chỉ có tác dụng
đầy đủ khi chức năng thận bình thường hay chỉ giảm nhẹ (nồng độ créatinine trong
huyết tương dưới 25 mg/l, hay 220 mmol/l.
LÚC CÓ THAI
Rối loạn dạ dày - ruột.
Phản ứng mẫn cảm chủ yếu ở da.
Nguy cơ bị mất nước với giảm thể tích máu, hạ
natri huyết, tăng acide urique huyết, tăng đường huyết và hạ huyết áp thế đứng,
cần phải ngưng thuốc hay giảm liều.
Rối loạn máu hiếm gặp : giảm tiểu cầu, giảm
bạch cầu, mất bạch cầu hạt, suy tủy và thiếu máu tán huyết.
Có khả năng gây hạ kali huyết hoặc hiếm hơn gây
tăng kali huyết, nhất là ở bệnh nhân suy thận và tiểu đường.
Ở bệnh nhân suy gan, có thể gây toan huyết do
tăng kali huyết ở bệnh nhân xơ gan, có thể dẫn đến bệnh não xơ gan.
Rất hiếm khi bị sỏi niệu.
Nước tiểu có thể có màu xanh nhạt.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG