Dạng uống :
- Sau khi được hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa,
hydroxyzine được chuyển hóa hoàn toàn.
- Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được sau
2 giờ đến 2 giờ 30 phút.
- Thuốc có tác động sau khi uống từ 15 đến 30
phút.
- Thời gian tác động từ 6 đến 8 giờ.
Dạng tiêm :
- Thời gian tác động từ 6 đến 8 giờ.
CHỈ ĐỊNH
- Y khoa tổng quát : các biểu hiện nhẹ của
chứng lo âu.
- Khoa thần kinh-tâm thần : lo âu nhẹ.
- Khoa gây mê : tiền mê trong gây mê tổng quát
(dạng uống), đặc biệt trong một vài thăm dò chức năng hoặc thăm dò quang tuyến
gây đau (dạng tiêm).
- Điều trị triệu chứng các biểu hiện dị ứng
khác nhau : viêm mũi vận mạch (theo mùa hoặc không theo mùa), viêm kết mạc, nổi
mề đay.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Dạng tiêm :
Trường hợp tiêm tĩnh mạch, cần pha loãng 1 ống
thuốc trong 10 ml huyết thanh sinh lý. Khi tiêm, nên rút ra 1 ml máu và tiêm trở
lại cùng với thuốc thật chậm, chỉ dùng đường tĩnh mạch, để tránh huyết giải.
Không bao giờ dùng đường động mạch.
Phần thuốc chứa trong ống thuốc Atarax không
tương hợp với thiopental sodique, cũng như với các dung dịch tiêm có pH trên 7.
LÚC CÓ THAI
Thường chỉ thoáng qua : kích động, táo bón.
Gây buồn ngủ.
Tác dụng kháng cholinergique có thể gây khô
miệng, bí tiểu, rối loạn điều tiết, lú lẫn ở người già.
Các tác dụng gây ức chế hô hấp không được ghi
nhận.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
n Dạng
viên : Thay đổi tùy theo chỉ định.
p Y
khoa tổng quát : 50-100 mg/24 giờ.
p Khoa
thần kinh-tâm thần : 100-300 mg/24 giờ.
p Khoa
gây mê : 100-200 mg/24 giờ.
p Khoa
da liễu : 50-100 mg/24 giờ.
p Nhi
khoa (trẻ từ 30 tháng đến 15 tuổi) : 1 mg/kg/ngày.
Dạng 100 mg không thích hợp cho trẻ em.
Các liều khuyến cáo trên đây có thể được tăng
hay giảm tùy theo yêu cầu.
n Dạng
xirô :
Người lớn : liều trung bình từ 1 đến 4
muỗng canh/ngày (30-120 mg/ngày).
Trẻ em : liều trung bình là 1
mg/kg/ngày.
n Dạng
tiêm :
Người lớn : 1-3 ống thuốc/ngày.
Nên tiêm bắp.
Tiêm tĩnh mạch nghiêm ngặt sau khi pha trong 10
ml huyết thanh sinh lý.
Trẻ em : 1 mg/kg/ngày.
Chỉ được tiêm bắp.
QUÁ LIỀU
Khi có quá liều, tăng trầm dịu là biểu hiện
thường gặp nhất, tuy nhiên, cũng phải nghĩ đến khả năng bị ngộ độc với nhiều
loại thuốc khác.
Gây nôn khi phát hiện bị quá liều, có thể tiến
hành rửa ruột.
Trong những trường hợp nặng, có thể sử dụng các
biện pháp hồi sức kinh điển. Không được dùng épinéphrine. Không có thuốc giải
độc đặc hiệu.