- Mẫn cảm với nadroparine.
- Tiền căn xuất huyết giảm tiểu cầu với
nadroparine.
- Các dấu xuất huyết hoặc tăng nguy cơ xuất
huyết có liên quan đến các rối loạn về cầm máu ngoại trừ đông máu nội mạch lan
tỏa không phải do héparine gây ra.
- Tổn thương các cơ quan dễ gây chảy máu (chẳng
hạn loét dạ dày tiến triển).
- Xuất huyết não.
- Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng cấp tính.
Chống chỉ định tương đối khi phối hợp với các
thuốc salicylate, thuốc kháng viêm không corticoide, ticlopidine.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
- Do héparine có thể gây xuất huyết giảm tiểu
cầu, phải theo dõi đều đặn số lượng tiểu cầu trong quá trình điều trị với
Fraxiparine.
- Vài trường hợp hiếm gặp xuất huyết giảm tiểu
cầu, đôi khi rất nặng đã được báo cáo. Các trường hợp này có thể phối hợp hoặc
không với huyết khối động mạch hay tĩnh mạch và cần phải ngưng điều trị.
- Nên cân nhắc chẩn đoán trong trường hợp xuất
huyết giảm tiểu cầu cũng như các tình trạng làm xấu thêm huyết khối nguyên phát
trong khi đang điều trị hoặc trong trường hợp có đông máu nội mạch lan tỏa hoặc
có huyết khối xảy ra trong khi điều trị. Những tác dụng này có lẽ do cơ chế miễn
dịch-dị ứng và trong lần điều trị đầu tiên, các tác dụng này thường xuất hiện
vào khoảng từ ngày 5 đến ngày 21, cũng có thể xảy ra sớm hơn nếu có tiền căn
xuất huyết giảm tiểu cầu do héparine.
- Khi có tiền căn xuất huyết giảm tiểu cầu xảy
ra với héparine (héparine kinh điển hay héparine có trọng lượng phân tử thấp),
có thể dùng Fraxiparine nếu thật sự có chỉ định phải điều trị với héparine.
Trong những trường hợp như vậy, phải theo dõi lâm sàng cẩn thận và đánh giá số
lượng tiểu cầu ít nhất mỗi ngày một lần. Ngưng điều trị ngay lập tức nếu có xuất
huyết do giảm tiểu cầu vì đã có một vài báo cáo về khả năng xuất huyết trở lại
có thể xảy ra sớm.
- Khi xảy ra xuất huyết giảm tiểu cầu do
héparine (héparine kinh điển hay héparine có trọng lượng phân tử thấp), việc
thay thế bằng các héparine có trọng lượng phân tử thấp khác phải được xem xét
nếu cần thiết tiếp tục sử dụng héparine. Trong những trường hợp như thế, nên
theo dõi hàng ngày và ngưng điều trị càng sớm càng tốt vì đã có một vài báo cáo
về việc xuất huyết giảm tiểu cầu lại tiếp tục sau khi thay thế thuốc. Các xét
nghiệm về độ kết tập tiểu cầu in vitro chỉ có giá trị giới hạn.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Sử dụng thuốc cẩn thận trong trường hợp có
suy gan, suy thận, cao huyết áp nặng, tiền căn loét dạ dày hay tổn thương các cơ
quan khác có xu hướng chảy máu, các bệnh lý mạch máu của hắc võng mạc, giai đoạn
hậu phẫu sau phẫu thuật não, tủy sống hoặc mắt.
- Cân nhắc giảm liều ở bệnh nhân suy thận nặng.
- Héparine ức chế tiết aldosterone của thượng
thận, gây tăng kali máu, đặc biệt ở các bệnh nhân có tăng kali hay có nguy cơ
tăng kali (như tiểu đường, suy thận mãn, tiền rối loạn toan máu hay dùng thuốc
tăng kali máu như ức chế men chuyển, kháng viêm không stéroide).
Nguy cơ tăng kali máu tăng theo thời gian điều
trị nhưng thường hồi phục. Cần theo dõi kali máu cho đối tượng nguy cơ.
- Nguy cơ tụ máu tủy/ngoài màng cứng tăng cao
nếu đặt ống thông ngoài màng cứng hay dùng phối hợp với các chất ảnh hưởng đến
cầm máu : kháng viêm không stéroide, ức chế tiểu cầu, kháng đông. Nguy cơ sẽ
tăng lên do chấn thương hay do thực hiện chọc dò tủy sống, chọc dò ngoài màng
cứng nhiều lần.
Vì vậy thực hiện đồng thời việc ức chế thần
kinh trung ương bằng gây tê tủy sống và điều trị bằng kháng đông phải được cân
nhắc cẩn thận :
- Ở bệnh nhân đang điều trị kháng đông, lợi ích
của ức chế thần kinh trung ương bằng gây tê tủy sống phải được cân nhắc với các
nguy cơ.
- Ở bệnh nhân dự định phẫu thuật với gây tê tủy
sống, lợi ích của điều trị kháng đông cũng phải được cân nhắc với các nguy cơ.
- Ở bệnh nhân chịu thủ thuật chọc dò tủy, gây
tê tủy sống hay gây tê ngoài màng cứng, cần lưu ý khoảng thời gian vừa đủ giữa
việc chọc dò, luồn và rút kim (dây) chọc dò.
LÚC CÓ THAI
Không nên sử dụng cùng lúc với aspirine, (hoặc
các salicylate khác), thuốc kháng viêm không corticoide và thuốc chống tiểu cầu
vì làm tăng nguy cơ xuất huyết.
Trong trường hợp không tránh được sự phối hợp
thuốc, phải theo dõi lâm sàng và các chỉ số sinh học cẩn thận.
Thận trọng khi sử dụng Fraxiparine cho các bệnh
nhân đang điều trị thuốc kháng đông uống, các thuốc corticoide dùng đường toàn
thân và dextran. Khi dùng kháng đông uống trên bệnh nhân dùng nadroparine, cần
tiếp tục dùng héparine cho đến khi chỉ số INR ổn định theo mục tiêu.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng phụ chung cho các chế phẩm
héparine khác :
- Xuất huyết thấy rõ hay không thấy rõ, thường
gặp ở các bệnh nhân có nguy cơ cao (xem thêm chống chỉ định và tương tác thuốc).
- Một vài trường hợp xuất huyết giảm tiểu cầu,
đôi khi nặng đã được ghi nhận (xem Chú ý đề phòng).
- Vài trường hợp có hoại tử da, thường xảy ra ở
vị trí tiêm chích với héparine hay các héparine có trọng lượng phân tử thấp đã
được báo cáo, chúng có thể biểu hiện bằng các đốm xuất huyết rải rác hoặc bằng
các mảng đỏ lan tỏa hoặc gây đau, có hoặc không kèm các dấu hiệu toàn thể. Trong
những trường hợp như vậy, phải ngưng điều trị ngay lập tức
- Tụ máu ở vị trí tiêm chích, đôi khi là những
nốt cứng. Các nốt này mất đi sau vài ngày.
- Các phản ứng mẫn cảm da hay toàn thân đôi khi
cần phải ngưng điều trị
- Tăng men transaminase, thường chỉ thoáng qua.
- Một vài trường hợp ngoại lệ có tăng
aldostérone đã được báo cáo hoặc có triệu chứng hoặc phối hợp với tăng kali máu,
có hoặc không có tăng natri máu và thường hồi phục sau khi ngưng điều trị.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Cần đặc biệt chú ý các chỉ dẫn về liều dùng đối
với các chế phẩm héparine có trọng lượng phân tử thấp do sử dụng các hệ thống
đơn vị khác nhau (đơn vị hay mg).
Khi được tiêm dưới da, vị trí tiêm thông thường
là thành bụng trước bên, luân phiên giữa bên phải và bên trái. Véo và giữ da
thành bụng bằng ngón cái và ngón trỏ tay trái. Đâm xuyên kim qua lớp da véo, chú
ý vẫn véo da trong khi tiêm. Không sử dụng Fraxiparine để tiêm bắp.
Phòng ngừa thuyên tắc mạch do huyết khối
:
Phẫu thuật tổng quát : liều 0,3 ml mỗi
ngày, trong ít nhất 7 ngày, trong tất cả mọi trường hợp, nên phòng ngừa qua khỏi
giai đoạn nguy cơ hoặc ít nhất cho đến khi bệnh nhân đi lại được. Liều đầu tiên
được tiêm từ 2-4 giờ trước khi phẫu thuật.
Phẫu thuật chỉnh hình : liều đầu tiên
được tiêm 12 giờ trước khi mổ và 12 giờ sau khi mổ xong. Những ngày sau tiêm 1
lần/ngày trong ít nhất 10 ngày, trong tất cả mọi trường hợp, nên phòng ngừa qua
khỏi giai đoạn nguy cơ hoặc ít nhất cho đến khi bệnh nhân đi lại được. Liều dùng
được điều chỉnh theo cân nặng cơ thể và dựa vào bảng dưới đây :
| Cân nặng (kg) |
Thể tích
Fraxiparine tiêm dưới da mỗi ngày một lần |
| trước phẫu thuật và đến ngày thứ 3 |
từ ngày thứ 4 trở đi |
| < 50 |
0,2 ml |
0,3 ml |
| 50-69 |
0,3 ml |
0,4 ml |
| >= 70 |
0,4 ml |
0,6 ml |
Bệnh nhân nội khoa ở khoa săn sóc đặc biệt
:
| Cân nặng (kg) |
Thể tích Fraxiparine tiêm dưới da mỗi ngày
1 lần |
| <= 70 |
0,4 ml |
| > 70 |
0,6 ml |
Điều trị các huyết khối đã thành lập ở tĩnh
mạch sâu :
Tiêm Fraxiparine dưới da ngày 2 lần (mỗi 12
giờ) trong thời gian thông thường là 10 ngày với liều tùy thuộc vào cân nặng của
cơ thể :
| Cân nặng (kg) |
Thể tích Fraxiparine tiêm dưới da mỗi lần,
ngày 2 lần |
| < 50 |
0,4 ml |
| 50-59 |
0,5 ml |
| 60-69 |
0,6 ml |
| 70-79 |
0,7 ml |
| 80-89 |
0,8 ml |
| >= 90 |
0,9 ml |
Điều trị bằng kháng đông đường uống nên được
khởi đầu càng sớm càng tốt trừ khi có chống chỉ định.
Ngăn ngừa cục máu đông trong tuần hoàn ngoài
cơ thể khi chạy thận nhân tạo : liều tối ưu được tính toán tùy theo mỗi bệnh
nhân và tùy theo điều kiện kỹ thuật chạy thận nhân tạo. Tiêm Fraxiparine liều
duy nhất vào đường dẫn máu động mạch trước khi chạy thận nhân tạo.
| Cân nặng (kg) |
Thể tích Fraxiparine tiêm trước khi chạy
thận nhân tạo |
| < 50 |
0,3 ml |
| 51-69 |
0,4 ml |
| >= 70 |
0,6 ml |
Với những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết, có
thể sử dụng nửa liều Fraxiparine. Nếu thời gian chạy thận nhân tạo kéo dài hơn 4
giờ, có thể cho thêm một liều nhỏ Fraxiparine trong thời gian chạy thận nhân
tạo. Trong những lần chạy thận nhân tạo sau, nên điều chỉnh liều khi cần, dựa
vào hiệu quả thấy được trong lần chạy thận trước đó.
- Điều trị cơn đau thắt ngực không ổn định
và nhồi máu cơ tim không sóng Q :
Nadroparine được chích dưới da ngày 2 lần (mỗi
12 giờ) với liều 86 UI anti-Xa/kg mỗi lần chích phối hợp với aspirine (liều
khuyến cáo 75-325 mg uống, sau khi dùng liều nạp từ 160-325 mg).
Khởi đầu điều trị với nadroparine bằng chích
bolus tĩnh mạch sau đó là chích dưới da.
Thời gian điều trị thường khoảng 6 ngày cho đến
khi lâm sàng ổn định, với liều điều chỉnh theo cân nặng như bảng dưới đây :
| Cân nặng (kg) |
Liều dùng |
| Tiêm bolus tĩnh mạch khởi đầu |
Tiêm dưới da (mỗi 12 giờ) |
UI anti-Xa tương ứng |
| < 50 |
0,4 ml |
0,4 ml |
3800 |
| 50-59 |
0,5 ml |
0,5 ml |
4750 |
| 60-69 |
0,6 ml |
0,6 ml |
5700 |
| 70-79 |
0,7 ml |
0,7 ml |
6650 |
| 80-89 |
0,8 ml |
0,8 ml |
7600 |
| 90-99 |
0,9 ml |
0,9 ml |
8550 |
| >= 100 |
1,0 ml |
1,0 ml |
9500 |
Vì không có các dữ liệu lâm sàng về việc phối
hợp thuốc nadroparine với thuốc tan huyết khối, khi cần phải dùng thuốc tan
huyết khối nên ngừng điều trị với nadroparine.
QUÁ LIỀU