Tác dụng hạ áp của Irbesartan rõ ràng sau liều
đầu tiên và giữ vững sau 1-2 tuần, tác dụng tối đa sau 4-6 tuần. Trong các
nghiên cứu dài hạn, hiệu quả Irbesartan duy trì hơn 1 năm.
Liều ngày 1 lần tới 900 mg có tác dụng hạ áp
phụ thuộc vào liều. Liều 150-300 mg ngày 1 lần làm hạ huyết áp tâm thu và tâm
trương tư thế nằm và ngồi sau 24 giờ là 8-13 / 5-8 mmHg, cao hơn giả dược. Tác
dụng sau 24 giờ với huyết áp tâm trương và tâm thu là 60-70%. Tác dụng tối ưu
trên kiểm soát huyết áp sau 24 giờ đạt được khi chỉ dùng liều ngày 1 lần.
Huyết áp giảm tương đương nhau ở cả tư thế đứng
và nằm. Hạ áp tư thế ít xảy ra nhưng cũng như ức chế men chuyển, nó có thể xảy
ra trên bệnh nhân giảm thể tích máu hay giảm natri.
Tác dụng hạ áp của Irbesartan cộng lực với lợi
tiểu thiazide. Ở bệnh nhân không kiểm soát được huyết áp với Irbesartan đơn độc,
phối hợp với hydrochlorothiazide liều thấp 12,5 mg làm giảm huyết áp tâm thu /
tâm trương thêm 7-10 / 3-6 mmHg.
Hiệu quả của Irbesartan không bị ảnh hưởng bởi
tuổi và giới. Cũng như sau khi ngưng Irbesartan, huyết áp trở về bình thường.
Không ghi nhận hiện tượng tăng vọt huyết áp sau khi ngưng thuốc.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Irbesartan có hoạt tính sau khi uống và không
cần qua sự chuyển hóa. Sau khi uống, Irbesartan được hấp thu nhanh và hoàn toàn.
Khả dụng sinh học bằng đường uống là 60-80%. Thức ăn không ảnh hưởng đến khả
dụng sinh học. Nồng độ đỉnh đạt được 1,5-2 giờ sau khi uống thuốc.
Tỉ lệ gắn với protein huyết tương khoảng 96% và
ít gắn kết với các thành phần tế bào của máu. Thể tích phân phối là 53-93 lít.
Sau khi uống hay tiêm tĩnh mạch, Irbesartan
đánh dấu 14C, 80-85% hoạt tính phóng xạ trong huyết tương là do
Irbesartan. Irbesartan được chuyển hóa tại gan bằng hiện tượng glucuronide hóa
và oxy hóa. Chất chuyển hóa chính lưu thông trong máu là Irbesartan glucuronide
(khoảng 6%). Irbesartan bị oxy hóa chủ yếu bởi men cytochrome P450 CYP2C9, đồng
men CYP3A4 ít có tác dụng.
Irbesartan và các chất chuyển hóa được thải qua
mật và thận. Khoảng 20% lượng đồng vị phóng xạ 14C Irbesartan sau khi
chích hay uống được phát hiện ở nước tiểu, phần còn lại trong phân. Dưới 2%
Irbesartan được thải trong nước tiểu dưới dạng không đổi.
Thời gian bán hủy thải trừ cuối cùng là 11-15
giờ. Tốc độ thanh thải sau khi chích là 157-176 mL/phút, trong đó 3,0-3,5
mL/phút do thận.Irbesartan có dược động học tỉ lệ theo liều. Nồng độ huyết tương
ổn định sau 3 ngày, với liều dùng ngày 1 lần.
Khi dùng lặp lại, tỉ lệ tích tụ ở huyết thanh <
20%.
- Trên bệnh nhân cao huyết áp nam và nữ :
Nồng độ huyết thanh ở nữ hơi cao hơn nam (11-44%), tuy nhiên sau khi dùng
nhiều lần, sẽ không còn khác biệt giữa nam và nữ. Hiệu quả lâm sàng cũng không
khác biệt giữa 2 giới.
- Trên người lớn tuổi (65-80 tuổi), huyết
áp, chức năng gan thận bình thường : Nồng độ AUC và nồng độ đỉnh Cmax của
Irbesartan lớn hơn người trẻ tuổi (18-40 tuổi) 20-50%. Thời gian bán hủy thải
trừ tương đương nhau. Tác dụng lâm sàng không khác nhau có ý nghĩa theo tuổi.
- Người da trắng và da đen huyết áp bình
thường : Nồng độ AUC và thời gian bán hủy ở người da đen cao hơn da trắng
20-25%. Nồng độ tới Cmax tương đương nhau.
- Ở bệnh nhân suy thận và chạy thận nhân tạo
: Dược động học không thay đổi. Irbesartan không bị lọc bởi thận nhân tạo.
- Ở bệnh nhân suy gan do xơ gan nhẹ và trung
bình : Dược động học không thay đổi.
CHỈ ĐỊNH
- Bệnh nhân giảm thể tích máu-hạ áp :
Aprovel hiếm khi gây tụt huyết áp. Cũng như các
thuốc ức chế men chuyển, tụt huyết áp triệu chứng có thể xảy ra ở bệnh nhân giảm
thể tích máu hay giảm natri do điều trị bằng thuốc lợi tiểu, hay đang theo chế
độ ăn kiêng muối hay đang chạy thận nhân tạo. Cần điều chỉnh tình trạng giảm thể
tích máu hay giảm natri trước khi điều trị Irbesartan hay phải hạ liều điều trị.
- Tử vong và bệnh tật ở thai nhi/sơ sinh :
Mặc dù không có kinh nghiệm nào về việc dùng
Aprovel trên phụ nữ mang thai, việc dùng ức chế men chuyển ở bệnh nhân mang thai
ở quí 2 và quí 3 của thai kỳ có thể gây tổn hại và tử vong cho thai nhi. Do vậy,
như bất cứ thuốc nào có tác động trực tiếp lên hệ renin-angiotensin-aldosterone,
Aprovel không được dùng khi mang thai. Nếu phát hiện đã thụ thai trong khi điều
trị, Aprovel phải được ngưng dùng ngay tức thì.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Tổng quát :
Trên một số bệnh nhân nhạy cảm, có thể có thay
đổi chức năng thận do hậu quả của việc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone.
Trên những bệnh nhân có chức năng thận phụ thuộc vào hoạt động của hệ
renin-angiotensin-aldosterone (như bệnh nhân cao huyết áp có hẹp động mạch thận
1 bên hay 2 bên, bệnh nhân suy tim xung huyết nặng), điều trị với các loại thuốc
ảnh hưởng đến hệ renin-angiotensin-aldosterone sẽ gây ra thiểu niệu và/hay tăng
nitơ máu với suy thận cấp và/hay tử vong.
Khả năng có hiệu quả tương tự cũng không được
loại trừ khi dùng chất ức chế thụ thể angiotensin II.
- Tương tác thuốc :
Dựa trên kết quả in-vitro, không có tương tác
xảy ra khi dùng chung với các thuốc chuyển hóa dựa vào các men cytochrome P450
như CYP1A1, CYP1A2, CYP2A6, CYP2B6, CYP2D6, CYP2E1 hay CYP3A4. Irbesartan được
chuyển hóa chủ yếu do CYP2C9. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu tương tác thuốc
trên lâm sàng, không ghi nhận được tương tác dược lực học nào đáng kể khi dùng
chung với warfarin (là thuốc chuyển hóa bởi CYP2C9).
Irbesartan cũng không ảnh hưởng đến dược động
học của digoxin hay simvastan. Dược động học của Irbesartan cũng không ảnh hưởng
khi dùng chung với nifedipine hay hydrochlorothiazide.
Theo kinh nghiệm, dùng các thuốc ảnh hưởng đến
hệ renin-angiotensin-aldosterone chung với các thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali,
thuốc bổ sung kali hay các muối có chứa kali có thể làm tăng kali huyết thanh.
- Khả năng gây ung thư, đột biến gen, vô
sinh hay độc cho thai :
Không có bằng chứng về khả năng gây ung thư khi
dùng Irbesartan ở chuột cống với liều tới 500/1000 mg/kg/ngày (chuột đực và cái)
và liều 1000 mg/kg/ngày cho chuột nhắt trong 2 năm.
So với liều ở người dùng hàng ngày 300 mg, liều
ở chuột cống cao gấp 4-25 lần và ở chuột nhắt cao gấp 4-6 lần. Irbesartan không
gây đột biến gen trong các thử nghiệm in-vitro (thử nghiệm Ames trên vi trùng,
thử nghiệm sửa chữa DNA tế bào gan chuột, thử nghiệm đột biến gen V79 ở tế bào
động vật có vú). Irbesartan cũng âm tính trong các thử nghiệm làm chuyển đổi
nhiễm sắc thể (thử nghiệm tế bào lympho người in-vitro, nghiên cứu vi nhân ở
chuột).
Khả năng sinh sản và thụ thai cũng không bị ảnh
hưởng trên các thử nghiệm ở chuột đực và cái với liều uống khá cao (650
mg/kg/ngày). Không có sự thay đổi trên lượng hoàng thể, sự đậu thai hay số lượng
thai còn sống. Irbesartan không ảnh hưởng đến sự sống, phát triển và sinh sản
của các thế hệ sau.
Với liều 50 mg/kg/ngày và cao hơn, một vài tác
động thoáng qua như tăng lượng bể thận, niệu quản ứ nước, phù dưới da được quan
sát thấy ở chuột. Những tác động này biến mất sau khi sinh. Ở thỏ, liều 30
mg/kg/ngày có sự tăng tỉ lệ tử vong mẹ, tăng sẩy thai và thai teo nhỏ.
Không thấy hậu quả sinh ung thư trên chuột và
thỏ.
- Có thai:
Khi mang thai, phải ngưng dùng Aprovel.
- Cho con bú :
Thuốc qua được sữa ở loài chuột. Không rõ thuốc
có qua được sữa người không. Tùy vào sự cần thiết của Aprovel đối với mẹ và nguy
cơ cho thai để quyết định xem nên ngưng cho con bú hay ngưng thuốc.
- Dùng thuốc ở người già :
Trong số bệnh nhân lớn tuổi được nghiên cứu,
không thấy có sự khác biệt nào về hiệu quả và sự an toàn giữa nhóm bệnh nhân lớn
tuổi (>= 65 tuổi) và nhóm bệnh nhân trẻ.
- Dùng ở trẻ em :
Sự an toàn và hiệu quả trên bệnh nhân trẻ em
chưa được xác định.
- Hậu quả trên việc lái xe và vận hành máy
móc :
Dựa trên cơ chế, Irbesartan khó có khả năng gây
ảnh hưởng đến 2 hoạt động trên. Cần lưu ý là khi điều trị cao huyết áp, bệnh
nhân có thể thấy hơi choáng váng hay mệt mỏi.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Các tác dụng không mong muốn của Aprovel nhẹ và
thoáng qua, không liên quan đến liều, không liên quan đến tuổi, giới và chủng
tộc.
Trong các nghiên cứu so sánh với giả dược gồm
1965 bệnh nhân điều trị với Irbesartan từ 1-3 tháng, tỉ lệ ngưng thuốc do tác
dụng phụ trên lâm sàng hay trên xét nghiệm là 3,3% đối với Irbesartan và 4,5%
đối với giả dược (p = 0,029).
Tỉ lệ tác dụng phụ không chắc và có thể có liên
quan đến điều trị là 1% cho cả bệnh nhân dùng Irbesartan và giả dược.
Tỉ lệ tác dụng phụ so sánh với giả dược :
| Tác dụng phụ |
Tỉ lệ |
| |
Irbesartan (n = 1965) |
Giả dược (n = 641) |
| Tổng quát |
|
|
| Mệt |
2,4 |
2,0 |
| Tim mạch |
|
|
| Phù |
0,9 |
1,4 |
| Tiêu hóa |
|
|
| Nôn, buồn nôn |
1,1 |
0,3 |
| Thần kinh |
|
|
| Choáng váng |
3,8 |
3,6 |
| Nhức đầu |
6,1 |
7,8 |
Các tác dụng phụ khác chiếm tỉ lệ từ 0,5% đến <
1% tương tự hay ít hơn so với giả dược, bao gồm : đau ngực, ho, tiêu chảy, khó
tiêu, ợ nóng, choáng váng khi đổi tư thế, rối loạn khả năng tính dục, chậm nhịp
tim.
- Theo dõi sau khi thuốc được đưa ra thị
trường : cũng giống như các thuốc ức chế thụ thể angiotensin II khác, có vài
trường hợp có phản ứng quá mẫn (nổi mề đay, phù mao mạch) đã được báo cáo.
- Bất thường về xét nghiệm : Trong các
nghiên cứu, không ghi nhận có thay đổi các chỉ tiêu xét nghiệm. Cũng không cần
phải theo dõi xét nghiệm đặc biệt gì khi dùng Aprovel.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khởi đầu và liều duy trì được đề nghị
thường là 150 mg một lần mỗi ngày, cùng với thức ăn hay không. Liều được điều
chỉnh theo đáp ứng hạ áp.
Đối với bệnh nhân không kiểm soát được huyết
áp, liều có thể tăng đến 300 mg/ngày. Nếu huyết áp vẫn chưa được kiểm soát với
Aprovel, có thể phối hợp với thuốc lợi tiểu (hydrochlorothiazide 12,5 mg/ngày)
hay một thuốc hạ áp khác (ức chế bêta, ức chế kênh calci).
- Giảm thể tích máu : Đối với bệnh nhân
giảm thể tích máu hay giảm natri nặng (như khi điều trị bằng thuốc lợi tiểu hay
khi chạy thận nhân tạo), phải điều chỉnh các rối loạn này trước khi dùng Aprovel
hay khởi đầu bằng liều thấp hơn. Nếu huyết áp không kiểm soát được, sẽ tăng dần
liều.
- Người già và suy gan, suy thận : Không
cần phải chỉnh liều đối với bệnh nhân già, suy chức năng gan và suy chức năng
thận.
QUÁ LIỀU