Netilmicin là một kháng sinh diệt khuẩn.
Vi khuẩn học : Netilmicin là một kháng
sinh có tác dụng diệt khuẩn nhanh, tác động bằng cách ức chế sự tổng hợp bình
thường của protéine ở các vi khuẩn nhạy cảm. Netilmicin tác động ở nồng độ thấp
chống lại nhiều loại vi khuẩn gây bệnh bao gồm Escherichia coli, các vi khuẩn
nhóm Klebsiella-Enterobacter-Serratia, Citrobacter sp, Proteus sp (indole dương
tính và indole âm tính), bao gồm Proteus mirabilis, P. morganii, P. rettgeri, P.
vulgaris, Pseudomonas aeruginosa và Neisseria gonorrhoeae. Netilmicin cũng có
tác động in vitro trên các vi khuẩn phân lập Hemophilus influenzae, Salmonella
sp, Shigella sp và trên Staphylococcus tạo pénicillinase và không tạo
pénicillinase kể cả các chủng kháng methicilin. Một số chủng thuộc Providencia
sp, Acinetobacter sp và Aeromonas sp cũng nhạy cảm với netilmicin.
Nhiều dòng vi khuẩn đề kháng với các
aminoglycoside khác, thí dụ như kanamycine, gentamicine, tobramycine và
sisomicine thì nhạy cảm với netilmicin trong điều kiện in vitro. Đôi khi các
dòng đã được xác định đề kháng với amikacine nhưng lại nhạy cảm với netilmicin.
Sự phối hợp netilmicin và pénicilline G tạo một
tác động diệt khuẩn hiệp đồng chống lại phần lớn các chủng Streptococcus
faecalis (Enterococcus). Tác động phối hợp của netilmicin và carbenicilline hoặc
ticarcilline có tính hiệp đồng trên nhiều chủng Pseudomonas aeruginosa. Hơn nữa,
nhiều chủng cô lập Serratia đề kháng với nhiều kháng sinh bị ức chế bởi tác dụng
hiệp đồng của netilmicin và carbenicilline, azlocilline, mezlocilline,
cefamandole, cefotaxime hay moxalactam. Các xét nghiệm về tính đồng vận của
kháng sinh là rất cần thiết.
Xét nghiệm về tính nhạy cảm : Nếu dùng
phương pháp đĩa để thử nghiệm tính nhạy cảm như Bauer và cộng sự mô tả, một đĩa
chứa 30 mg
netilmicin sẽ tạo một vùng ức chế có đường kính 17 mm hoặc lớn hơn cho thấy tính
nhạy cảm của netilmicin trên các vi khuẩn phân lập từ các loài không phải
Pseudomonas aeruginosa. Với Pseudomonas aeruginosa, tính nhạy cảm của netilmicin
được biểu hiện bởi một vùng ức chế có đường kính 12 mm hoặc lớn hơn. Vùng ức chế
nhỏ hơn 12 mm ở Pseudomonas aeruginosa và nhỏ hơn 17 mm trên các loài khác chứng
tỏ vi khuẩn rất có thể có khả năng đề kháng.
Do Pseudomonas đáp ứng khác hơn với độ phân tán
của métilmicine trên xét nghiệm nhạy cảm bằng đĩa thạch so với
Enterobacteriaceae và Staphylococcus, người ta sử dụng kích thước vùng vô khuẩn
khác để phân biệt vi khuẩn nhạy cảm và đề kháng. Trên lâm sàng, sự khác biệt này
không có nghĩa là tác động kém hơn. Nếu vùng ức chế nằm giữa giá trị 12 và 17
mm, xét nghiệm oxidase dương tính cũng như các phương pháp nhận diện khác sẽ
chứng minh được khả năng hiện diện của pseudomonas nhạy cảm.
Trong một vài trường hợp nhất định, đặc biệt
với các chủng Pseudomonas aeruginosa, có thể cần phải làm thêm xét nghiệm nhạy
cảm bằng phương pháp ống nghiệm hay phương pháp pha loãng thạch ; nên dùng dung
dịch chuẩn netilmicin để làm xét nghiệm này.
Độc tính :
Trên thú vật : các nghiên cứu độc tính bán cấp
và mãn trên chuột cống, cobaye, chó, mèo, thỏ và khỉ sóc chứng tỏ netilmicin ít
độc trên thận và ít độc trên tai hơn các aminoglycoside khác.
CHỈ ĐỊNH
Nhiễm khuẩn gây ra bởi các chủng nhạy cảm của
các vi khuẩn sau : Escherichia coli, Klebsiella, Enterobacter, Serratia sp,
Citrobacter sp, Proteus sp (indole dương tính và indole âm tính), Pseudomonas
aeruginosa, Staphylococcus sp (coagulase dương tính và coagulase âm tính, kể cả
các chủng đề kháng pénicilline và méticilline) và Neisseria gonorrhoeae.
Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy netilmicin có
hiệu quả trong : nhiễm trùng máu (kể cả nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh), nhiễm trùng
nặng đường hô hấp ; nhiễm trùng thận, tiết niệu-sinh dục ; nhiễm trùng da, mô
mềm ; nhiễm trùng xương khớp ; nhiễm trùng khi giải phẫu ; vết thương, bỏng ;
nhiễm trùng trong ổ bụng (bao gồm viêm phúc mạc) ; nhiễm trùng đường tiêu hóa.
Netilmicin IM/IV được khuyên dùng điều trị khởi
đầu trong các bệnh nhiễm trùng nghi ngờ hay đã xác định được là do vi khuẩn gram
âm. Trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng do vi khuẩn gram âm, việc quyết định
trị liệu tiếp tục với netilmicin IM/IV phải dựa trên kết quả thử nghiệm tính
nhạy cảm, đáp ứng lâm sàng và sự dung nạp thuốc của bệnh nhân.
Trong các bệnh nhiễm trùng nặng khi chưa xác
định được vi khuẩn gây bệnh, netilmicin IM/IV được dùng điều trị khởi đầu kết
hợp với một kháng sinh thuộc nhóm pénicilline hoặc céphalosporine trước khi có
kết quả thử nghiệm tính nhạy cảm. Nếu nghi ngờ có vi khuẩn kỵ khí, nên phối hợp
Netromycin IM/IV với một chất kháng khuẩn thích hợp. Sau khi nhận định được vi
khuẩn và tính nhạy cảm, Netromycin hay kháng sinh khác thích hợp được chỉ định
tiếp theo.
Netromycin IM/IV được dùng có hiệu quả khi kết
hợp với carbenicilline hay ticarcilline trong điều trị các bệnh nhiễm trùng rất
nặng gây ra bởi Pseudomonas aeruginosa. Thuốc cũng công hiệu khi dùng kết hợp
với một thuốc loại pénicilline trong điều trị viêm nội tâm mạc gây ra bởi
Streptococcus.
Ở trẻ sơ sinh nghi ngờ bị nhiễm trùng hoặc viêm
phổi do staphylocoque, thường chỉ định đồng thời netilmicin với một thuốc loại
pénicilline.
Vì Netromycin IM/IV được chứng minh cũng có
hiệu lực trong điều trị các bệnh nhiễm trùng nặng do staphylocoque, nên nó có
thể được xét đến trong điều trị các bệnh này khi pénicilline hoặc các dược phẩm
ít độc hơn không được phép sử dụng và khi các thử nghiệm tính nhạy cảm của vi
khuẩn cùng với các chẩn đoán lâm sàng cho phép. Netromycin cũng được xét đến
trong các trường hợp nhiễm nhiều loại vi khuẩn do các chủng nhạy cảm của
staphylocoque và vi khuẩn gram âm.
Netromycin IM/IV được chỉ định với một liều duy
nhất trong điều trị nhiễm trùng lậu cầu cấp tính không biến chứng ở phái nam
(niệu đạo, trực tràng) và ở phái nữ (niệu đạo, cổ tử cung, trực tràng) trong
trường hợp không suy thận.
Trong phẫu thuật, Netromycin IM/IV có thể được
dùng trong tiền phẫu và tiếp tục khi hậu phẫu để trị liệu các bệnh nghi ngờ hoặc
gây ra do các vi khuẩn nhạy cảm.
Netromycin IM/IV có hiệu quả trong điều trị các
bệnh nhiễm gây ra bởi các vi khuẩn đề kháng với các aminoglycoside khác như
kanamycine, gentamicine, tobramycine, sisomicine và amikacine.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Bệnh nhân điều trị với các aminoglycoside phải
được theo dõi cẩn thận về lâm sàng vì độc tính liên quan đến việc sử dụng chúng.
Netilmicin gây độc tính thấp trên thận. Tuy vậy, như với tất cả thuốc họ
aminoglycoside khác, nên kiểm tra chức năng thận trong suốt thời gian trị liệu.
Ở bệnh nhân suy thận, bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc với liều cao hoặc điều
trị kéo dài và ở những người lớn tuổi, nguy cơ thuốc gây độc tính trên thận cao
hơn so với ở người bình thường.
Mặc dù độc tính trên tai của netilmicin không
thường xuyên và biểu hiện nhẹ hơn so với các aminoglycoside khác, cũng có thể
xảy ra giảm thính lực và rối loạn chức năng tiền đình, chủ yếu ở những bệnh nhân
có tổn thương thận từ trước và những bệnh nhân có chức năng thận bình thường
được điều trị với liều cao hơn và/hoặc thời gian điều trị lâu hơn mức độ thông
thường khuyên dùng.
Nên khảo sát chức năng thận và dây thần kinh sọ
số 8 trong khi điều trị, đặc biệt ở các bệnh nhân đã có hoặc nghi ngờ bị giảm
chức năng thận thì nên khảo sát thêm lúc bắt đầu điều trị.
Nên khảo sát nước tiểu để xác định sự giảm tỉ
trọng đặc hiệu, tăng bài tiết protéine và có sự hiện diện của tế bào hoặc các
trụ niệu.
Nên kiểm tra định kỳ BUN, créatinine huyết
thanh hay thanh thải créatinine. Khi có thể, khuyên nên làm thính lực đồ định
kỳ, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ tai biến cao. Cần chỉnh liều hoặc
ngưng dùng thuốc nếu có các bằng chứng độc tính trên tai và trên thận. Như với
các aminoglycoside khác hoặc những trường hợp hiếm gặp, sự thay đổi chức năng
thận và dây thần kinh số 8 có thể không xuất hiện cho đến sau khi điều trị hoàn
toàn.
Nên xác định nồng độ aminoglycoside trong huyết
thanh để bảo đảm rằng thuốc đạt được nồng độ thích đáng và tránh ngưỡng độc hại.
Khi khảo sát nồng độ tối đa netilmicin, nên tránh dùng kéo dài các nồng độ trên
16 mg/ml.
Nồng độ tối đa và/hoặc tối thiểu trong huyết thanh của aminoglycoside quá lớn có
thể làm tăng độc tính trên thận và dây thần kinh sọ số 8. Nồng độ tối thiểu
(ngay trước khi dùng liều kế tiếp) thường sẽ ở trong khoảng 0,5-2
mg/ml
với liều khuyến cáo sử dụng. Nên tránh các nồng độ tối thiểu trên 4
mg/ml.
Ở bệnh nhân bị phỏng diện rộng, dược động của
thuốc bị biến đổi có thể dẫn đến sự giảm các nồng độ aminoglycoside trong huyết
thanh. Việc đo nồng độ netilmicin trong huyết thanh đặc biệt quan trọng ở những
bệnh nhân này để làm cơ sở điều chỉnh liều.
Các kháng sinh có độc tính trên thần kinh hay
thận có thể được hấp thu đáng kể từ bề mặt cơ thể sau khi thoa hoặc đắp tại chỗ.
Nên lưu ý khả năng độc hại của các kháng sinh này khi điều trị bằng cách này.
Gia tăng độc tính trên thận được ghi nhận sau
khi dùng đồng thời các kháng sinh aminoglycoside và céphalosporine.
Mặc dù sự ức chế thần kinh-cơ và liệt hô hấp
chưa là vấn đề được đặt ra qua các thử nghiệm lâm sàng, hiện tượng này đã được
ghi nhận ở thú được cho dùng netilmicin với liều cao hơn đáng kể so với liều
dùng trên lâm sàng, do đó, nên xem xét khả năng này xảy ra ở người, nhất là khi
sử dụng aminoglycoside ở bệnh nhân dùng thuốc gây mê, các chất gây ức chế thần
kinh-cơ (như succinyl choline, tubocurarine hay decamethonium) hoặc tiêm truyền
lượng lớn citrate chống đông máu. Nếu có hiện tượng nghẽn thần kinh cơ, có thể
dùng muối calcium để phục hồi.
Nên sử dụng thận trọng các aminoglycoside ở
bệnh nhân bị rối loạn thần kinh-cơ, như chứng nhược cơ nặng hay ngộ độc
Clostridium botulinum ở trẻ em hoặc bệnh Parkinson, vì các thuốc này trên lý
thuyết làm nặng thêm sự nhược cơ do tác dụng giống curare ở chỗ nối thần
kinh-cơ.
Ở bệnh nhân lớn tuổi, chức năng thận có thể suy
giảm mà không phát hiện được rõ ràng qua các xét nghiệm thường quy như BUN hoặc
créatinine huyết thanh. Sự xác định hệ số thanh thải créatinine có thể hữu ích
hơn. Cũng như các aminoglycoside khác, kiểm soát chức năng thận khi điều trị với
netilmicin đặc biệt quan trọng ở các bệnh nhân này.
Hội chứng giống Fanconi, với nhiễm toan chuyển
hóa và có acide amine niệu được báo cáo ở một số trường hợp người lớn và trẻ em
được điều trị với netilmicin sulfate.
Đã chứng minh được tính dị ứng chéo giữa các
aminoglycoside.
Bệnh nhân phải được cung cấp nước đầy đủ trong
quá trình điều trị.
In vitro, trộn lẫn một kháng sinh họ
aminoglycoside với các loại bêta-lactam (pénicilline hoặc céphalosporine) gây
mất hoạt tính lẫn nhau một cách đáng kể. Ngay cả khi 1 aminoglycoside và 1 kháng
sinh loại pénicilline được sử dụng riêng rẽ bằng các con đường khác nhau, cũng
có báo cáo về giảm thời gian bán hủy trong huyết thanh của aminoglycoside hoặc
nồng độ aminoglycoside trong huyết thanh ở các bệnh nhân bị giảm chức năng thận
và ở một số bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Thông thường, tác dụng mất
hoạt tính như thế của aminoglycoside chỉ có ý nghĩa về lâm sàng trên những bệnh
nhân suy thận trầm trọng.
Việc trị liệu bằng netilmicin có thể dẫn đến sự
phát triển quá mức của các vi khuẩn không nhạy cảm. Nếu xảy ra trường hợp này,
phải dùng các trị liệu thích hợp.
Thuốc tiêm Nétromycine có chứa métabisulfite Na
và sulfite Na ; các chất này có thể gây ra các phản ứng dị ứng bao gồm các triệu
chứng phản vệ và nguy hiểm đến tính mạng hoặc các cơn suyễn không trầm trọng ở
một vài đối tượng nhạy cảm. Tính nhạy cảm với sulfite thường xuyên được nhận
thấy ở người bị suyễn hơn là ở người không bị suyễn.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Độc tính trên thận : hiếm và thường là nhẹ được
báo cáo xuất hiện sau khi dùng netilmicin. Ở người lớn tuổi, bệnh nhân có tiền
sử suy thận hoặc được điều trị với lượng lớn hơn yêu cầu, độc tính xảy ra thường
hơn và hầu hết là có thể phục hồi.
Độc tính trên thần kinh : không giống các
aminoglycoside khác, dung dịch tiêm Netromycin có độc tính trên tiền đình và
trên ốc tai rất thấp. Có thể có thiểu năng tiền đình thoáng qua do cơ chế bù
trừ. Thiểu năng ốc tai hiếm gặp thì thường là không thể phục hồi. Tác dụng ngoại
ý lên cả tiền đình và các nhánh nghe của dây thần kinh sọ số 8 xảy ra chủ yếu ở
bệnh nhân suy thận và dùng liều cao và/hoặc điều trị kéo dài. Một số triệu chứng
xảy ra gồm : choáng váng, chóng mặt, ù tai, mất thính lực. Mất thính lực thường
biểu hiện bằng sự giảm nghe âm có âm sắc cao. Các yếu tố khác cũng có thể tăng
nguy cơ gây độc tính trên tai của aminoglycoside. Nguy cơ độc tính thấp trên
bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Không được chỉ định dùng dung dịch tiêm
Netromycin với liều cao hơn hoặc thời gian dài hơn liều khuyên dùng.
Một số bệnh nhân đã có tiền sử bị độc tính trên
thần kinh với các aminoglycoside khác được điều trị một cách an toàn với dung
dịch tiêm Netromycin IM/IV.
Các tác dụng ngoại ý khác hiếm xảy ra được ghi
nhận với netilmicin bao gồm : nhức đầu, khó chịu, rối loạn thị giác, mất khả
năng định hướng, tim đập nhanh, hạ huyết áp, đánh trống ngực, dị cảm, phát ban,
ớn lạnh, sốt, giữ nước, nôn mửa và tiêu chảy. Rất hiếm khi có báo cáo xuất hiện
phản vệ.
Các bất thường trong những nghiên cứu cận lâm
sàng liên quan đến netilmicin bao gồm : tăng đường huyết ; tăng phosphatase kiềm
; tăng SGOT hay SGPT ; bilirubine ; tăng kali ; các nghiên cứu chức năng gan bất
thường khác ; giảm hémoglobine, bạch cầu và tiểu cầu ; tăng bạch cầu ưa acide,
thiếu máu và tăng thời gian prothrombine.
Nói chung, dung nạp tại chỗ của Netromycin
thường là tốt, tuy nhiên đôi khi có hiện tượng đau ở nơi chích hay phản ứng tại
chỗ. So sánh sự chọn lọc lâm sàng ngẫu nhiên giữa netilmicin và amikacine thì
khi tiêm bắp netilmicin gây đau ít hơn một cách đáng kể so với amikacine.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Liều khuyến cáo dùng là như nhau ở đường tiêm
bắp và tiêm tĩnh mạch.
Nên theo dõi trọng lượng cơ thể của bệnh nhân
trước khi điều trị để tính toán liều lượng cho đúng. Ở người béo phì nên tính
toán liều aminoglycoside theo ước lượng trọng lượng không có mỡ.
Không nên trộn lẫn Netromycin IM/IV với các
thuốc khác mà phải dùng riêng rẻ theo đường dùng và phác đồ được khuyến cáo.
Cần đo nồng độ tối đa và tối thiểu của
netilmicin trong huyết thanh để chắc rằng thuốc được dùng đủ không vượt quá nồng
độ cần thiết. Khi dùng Netromycin IM/IV mỗi ngày trong 2 hay 3 ngày, nồng độ tối
đa được đo trong 30 phút đến 1 giờ sau khi uống cần trong khoảng 4-12
mg/ml ; nên
điều chỉnh liều để tránh nồng độề tối đa trong huyết thanh kéo dài trên 16
mg/ml.
Nên tránh nồng độ tối thiểu đo trước khi uống liều kế tiếp cao hơn 4
mg/ml. Khi
dùng Netromycin IM/IV một liều duy nhất nỗi ngày, có thể dự đoán nồng độ đỉnh
trong khoảng 20-30 mg/ml.
Thời gian trị liệu thông thường cho mọi bệnh
nhân là từ 7-14 ngày. Trong các trường hợp nhiễm trùng có biến chứng, cần điều
trị lâu dài hơn. Mặc dù các đợt điều trị kéo dài của netilmicin được dung nạp
tốt, việc kiểm tra chức năng thận, thính giác, thị giác và tiền đình cho bệnh
nhân được điều trị quá khoảng thời gian thông thường là rất quan trọng. Liều nên
được giảm khi biểu hiện lâm sàng cho phép.
Đường tiêm bắp :
Bệnh nhân có chức năng thận bình thường :
Người lớn : trường hợp nhiễm trùng đường tiểu
hoặc nhiễm trùng toàn thân không trầm trọng ở các bệnh nhân có chức năng thận
bình thường, liều dùng là 4-6 mg/kg/ngày chia làm 3 lần bằng nhau cách mỗi 8
giờ, hoặc chia làm 2 lần bằng nhau cách mỗi 12 giờ hoặc dùng mỗi ngày 1 lần. Nói
chung, với khoảng liều lượng này, dùng liều thấp hơn trong trường hợp nhiễm
trùng đường tiểu và cao hơn trong các bệnh nhiễm toàn thân. Với cả hai công
dụng, liều dùng nên được điều chỉnh tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh và tình
trạng của bệnh nhân. Ở người lớn cân nặng từ 40-60 kg : có thể dùng 100 mg mỗi
12 giờ. Ở người lớn với thể trọng nặng hơn hay nhẹ hơn khoảng trọng lượng nêu
trên, liều dùng nên được tính bằng mg/kg của trọng lượng cơ thể không tính mỡ.
Ở bệnh nhân nhiễm trùng nặng : dùng 7,5
mg/kg/ngày chia làm 3 liều bằng nhau cách mỗi 8 giờ. Liều này nên giảm còn 6
mg/kg/ngày hoặc ít hơn ngay khi biểu hiện lâm sàng cho phép, thường trong khoảng
48 giờ.
Trẻ em : 6-7,5 mg/kg/ngày (dùng 2-2,5 mg/kg
cách mỗi 8 giờ)
Trẻ sơ sinh và mới sinh trên 1 tuần : 7,5-9
mg/kg/ngày (dùng 2,5-3 mg/kg cách mỗi 8 giờ)
Trẻ sinh thiếu tháng hoặc mới sinh 1 tuần hay
dưới 1 tuần : 6 mg/kg/ngày (3 mg/kg dùng cách mỗi 12 giờ)
Bệnh nhân suy thận :
Liều phải được điều chỉnh ở các bệnh nhân bị
suy thận. Khi có thể, nên kiểm tra nồng độ netilmicin trong huyết thanh. Lịch
dùng thuốc không nhất thiết theo chỉ định cứng nhắc nhưng được nêu ra như một
hướng dẫn về liều lượng khi sự đo lường netilmicin trong huyết thanh không thể
thực hiện được. Nếu không có định lượng huyết thanh và chức năng thận ổn định,
hệ số thanh thải créatinine và créatinine huyết thanh là các chỉ dẫn có giá trị
nhất về mức độ thiểu năng thận để hướng dẫn việc điều chỉnh liều lượng.
Chế độ điều trị thay đổi về khoảng cách dùng
liều : có thể điều chỉnh bằng cách gia tăng khoảng thời gian giữa các liều được
dùng thông thường. Vì nồng độ créatinine trong huyết thanh có tương quan lớn với
thời gian bán hủy của netilmicin trong huyết thanh, xét nghiệm này có thể hướng
dẫn cho việc điều chỉnh khoảng cách thời gian giữa các liều. Khoảng cách thời
gian giữa các lần dùng thuốc (tính bằng giờ) có thể được ước lượng bằng cách
nhân mức créatinine trong huyết thanh (tính bằng mg/100ml) với 8. Thí dụ : một
bệnh nhân cân nặng 60 kg với mức créatinine trong huyết thanh là 3 mg/100 ml có
thể dùng 120 mg (2 mg/kg) cách 24 giờ (3 x 8).
Chế độ điều trị thay đổi về liều lượng : Ở các
bệnh nhân nhiễm trùng toàn thân nặng hoặc suy thận, kháng sinh có thể dùng với
khoảng cách thời gian ngắn hơn nhưng liều giảm đi. Ở các bệnh nhân này, nên đo
nồng độ netilmicin trong huyết thanh.
Các phương pháp đề xuất :
Sau liều khởi đầu hoặc liều tấn công thông
thường, một hướng dẫn sơ bộ để xác định việc giảm liều ở cách khoảng 8 giờ là
chia liều yêu cầu thông thường với mức créatinine trong huyết thanh. Thí dụ :
sau liều khởi đầu 120 mg (2 mg/kg), 1 bệnh nhân cân nặng 60 kg với mức
créatinine trong huyết thanh là 3 mg/100 ml sẽ được cho dùng 40 mg mỗi 8 giờ
(120 / 3).
Nếu biết hệ số thanh thải créatinine, liều duy
trì được dùng mỗi 8 giờ có thể tính bằng công thức sau :
Liều duy trì mỗi 8 giờ = Liều duy trì thông
thường x Ccr ghi nhận / Ccr bình thường
Ccr = Hệ số thanh thải créatinine
(ml/phút/1,73 m2)
Liều khởi đầu hay tiếp theo giống nhau ở bệnh
nhân có chức năng thận bình thường (xem bảng)
Hướng dẫn chỉnh liều lượng ở bệnh nhân thiểu
năng thận (liều cách 8 giờ sau liều khởi đầu bình thường).
| Créatinine huyết thanh (mg/100 ml) |
Hệ số thanh thải créatinine phỏng định
(ml/phút/1,73 m2) |
% của liều thông thường |
| <= 1.0 |
100 |
100 |
| 1,1-1,3 |
70-100 |
80 |
| 1,4-1,6 |
55-70 |
65 |
| 1,7-1,9 |
45-55 |
55 |
| 2,0-2,2 |
40-45 |
50 |
| 2,3-2,5 |
35-40 |
40 |
| 2,6-3,0 |
30-35 |
35 |
| 3,1-3,5 |
25-30 |
30 |
| 3,6-4,0 |
20-25 |
25 |
| 4,1-5,1 |
15-20 |
20 |
| 5,2-6,6 |
10-15 |
15 |
| 6,7-8,0 |
10 |
10 |
Phác đồ được nêu như một hướng dẫn liều lượng
khi việc đo mức créatinine trong huyết thanh không thực hiện được. Sự suy giảm
hoạt động chức năng thận có thể đòi hỏi giảm liều nhiều hơn so với liều được nêu
ra cho bệnh nhân có tình trạng suy thận ổn định.
Đường tiêm tĩnh mạch : Netilmicin hữu hiệu
trong điều trị bệnh nhân bị nhiễm trùng máu hoặc bị sốc. Việc sử dụng thuốc bằng
đường tiêm tĩnh mạch cũng được ưa chuộng ở các bệnh nhân suy tim sung huyết, rối
loạn về máu, bỏng nặng hoặc bị giảm trọng lượng cơ.
Dùng đường tiêm tĩnh mạch ở người lớn, 1 liều
duy nhất có thể được pha loãng trong 50-200 ml dung dịch muối đẳng trương hay
dung dịch vô trùng Dextrose 5% ; ở trẻ sơ sinh và trẻ em, thể tích chất pha
loãng nên tùy thuộc nhu cầu nước của bệnh nhân. Dung dịch có thể được tiêm
truyền trên khoảng thời gian từ nửa giờ đến 2 giờ. Trong một số trường hợp, có
thể tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch hoặc bơm chậm vào ống truyền tĩnh mạch trong
khoảng 3-5 phút.
Về lý tính, Netromycin IM/IV tương hợp với các
dung dịch pha tiêm được kể dưới đây và không mất tác dụng ở nồng độ 3 mg/ml (về
cơ bản) khi giữ ở nhiệt độ phòng hay nhiệt độ lạnh trên 7 ngày :
Nước pha tiêm tiệt khuẩn ; dung dịch muối tiêu
chuẩn ; dung dịch tiêm NaCl ; Dextrose 5% trong nước ; Dextrose 5% với dung dịch
điện giải số 48 ; Dextrose 5% với dung dịch điện giải số 75 ; Dextrose 5% và
dung dịch tiêm NaCl 0,9% ; dung dịch tiêm Dextrose 50% ; dung dịch tiêm sodium
bicarbonate 5% ; 6% Dextran 75 trong Dextrose 5% ; 10% Dextran 40 ; Dextrose 10%
trong nước ; dung dịch tiêm Ringer ; dung dịch tiêm Lactated Ringer ; dung dịch
tiêm Lactate Ringer với Dextrose 5% ; Isolyte P* với Dextrose 5% ;
Isolyte M* với Dextrose 5% ; Isolyte E* với Dextrose 5% ;
dung dịch tiêm Osmitrol 10 và 20% ; dung dịch tiêm Plasma-lyte M Dextrose 5% ;
dung dịch tiêm Plasma-lyte 148 ; Plasma-lyte 56 với Dextrose 5% ; Plasma - Lyte
148 với Dextrose 5%; Ionosol B trong D5-W ; Ionosol T trong Dextrose 5% ; 10%
Travert+ với dung dịch điện giải số 2 ; 10% Travert+ với
dung dịch điện giải số 3 ; 10% Gentran* 40 và Dextrose 5% ; Dextrose
5% trong Polysal++ ; 5% dung dịch tiêm Amigen hoặc dung dịch tiêm
Amigen 5% với Dextrose 5% ; Normosol-R ; Polysal ; dung dịch tiêm Aminosol 5% ;
dung dịch tiêm Fre-amine II 8,5% ; dung dịch tiêm Fructose 10% ; và Rheomacrodex
10% trong Dextrose 5%.
(*) : Nhãn hiệu thương mại của Viện
bào chế McGaw.
(+) : Nhãn hiệu thương mại của Viện
bào chế Baxter-Travenol, Inc.
(++) : Nhãn hiệu thương mại của Viện
bào chế Cutter, Inc.
Điều trị theo các chế độ liều lượng đặc biệt :
bệnh lậu ở phái nam và ở phái nữ: Tiêm bắp một liều duy nhất 300 mg Netromycin.
Nên tiêm sâu vào phần tư trên ngoài của mông (100 mg/ml) với nửa liều ở mỗi bên
mông. Khuyến cáo điều chỉnh liều dựa trên thể trọng không tính mỡ đối với bệnh
nhân nhỏ người hay to béo.
Các nhiễm trùng đường tiết niệu : nhiễm trùng
tiết niệu không biến chứng, đặc biệt trong trường hợp mạn tính và tái phát và
không có thiểu năng thận, bệnh nhân được điều trị với liều 3 mg/kg, tương ứng
với 150-200 mg, tiêm bắp mỗi ngày một liều trong 7-10 ngày.
Thẩm phân lọc máu : ở người lớn suy thận chịu
sự thẩm phân lọc máu, lượng netilmicin rút ra từ máu có thể thay đổi tùy thuộc
nhiều yếu tố, bao gồm phương pháp thẩm phân đã được sử dụng. Một sự thẩm phân
lọc máu trong 8 giờ có thể làm giảm nồng độ netilmicin trong huyết thanh khoảng
63%. Thẩm phân ngắn hơn sẽ loại trừ được ít thuốc hơn. Liều khuyến cáo dùng sau
mỗi lần thẩm phân là 2 mg/kg.
Trẻ em : dùng 2-2,5 mg/kg/ngày, tùy thuộc vào
tính trầm trọng của nhiễm trùng.
Điều trị phối hợp : không nên giảm liều
netilmicin khi phối hợp với các kháng sinh khác ở bệnh nhân có chức năng thận
bình thường hoặc suy yếu.
QUÁ LIỀU