Betaxolol HCl chất phong tỏa thụ thể
(bêta-1-adrenergic) chọn lọc ở tim, không có hoạt tính ổn định màng đáng kể (vô
cảm tại chỗ) và bản thân không có tác dụng hướng giao cảm. Nhãn áp cao là một
yếu tố nguy cơ chính trong việc mất thị trường do glaucome. Nhãn áp tăng càng
cao, khả năng tổn thương thị thần kinh và mất thị trường càng lớn.
Betaxolol có tác dụng làm giảm nhãn áp cao
cũng như nhãn áp bình thường và cơ chế tác dụng làm hạ nhãn áp dường như do giảm
sản xuất thủy dịch. Điều này đã được chứng minh bằng nhãn áp ký và phương pháp
đo độ loãng fluorescein trong thủy dịch. Nói chung betaxolol bắt đầu có tác dụng
trong vòng 30 phút và hiệu quả tối đa thường được phát hiện 2 giờ sau khi dùng
thuốc tại chỗ. Dùng liều duy nhất làm giảm nhãn áp trong 12 giờ. Trong những
nghiên cứu mù đôi có đối chứng, mức độ và thời gian tác dụng hạ nhãn áp của
huyền dịch nhỏ mắt Betoptic S 0,25% và của dung dịch nhỏ mắt Betoptic 0,5% tương
đương nhau về mặt lâm sàng. Huyền dịch Betoptic S dễ chịu hơn đáng kể so với
dung dịch Betoptic. Dung dịch betaxolol nhỏ mắt ở nồng độ 1% (một giọt nhỏ mắt)
không có tác dụng nào đáng kể lên chức năng phổi theo kết quả đo FEV1,
FVC, tỷ số FEV1/FVC. Không thấy có bằng chứng nào về tác dụng chẹn
bêta-adrenergic trên hệ tim mạch của thuốc betaxolol. Dữ liệu thu được từ những
thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ở những bệnh nhân bị glaucome góc mở mãn tính
và nhãn áp cao cho thấy rằng so với điều trị bằng timolol, một chất chẹn bêta
không chọn lọc, thì điều trị betaxolol có lợi hơn về lâu dài đối với thị trường.
Hơn nữa, trong khi điều trị bằng betaxolol, không thấy có tác dụng xấu nào đối
với việc cấp máu cho thần kinh thị giác. Đúng hơn là betaxolol duy trì hay cải
thiện dòng máu/tưới máu cho mắt.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Thuốc nhỏ mắt Betoptic S có hoạt chất chính
là betaxolol hydrochloride, chất phong tỏa thụ thể bêta-adrenergic chọn lọc ở
tim được hòa tan trong một chế phẩm huyền dịch resin vô trùng.
Hoạt tính giãn mạch ngoại vi của betaxolol đã
được chứng minh trong một nghiên cứu in vivo ở chó, trong khi những tác dụng
giãn mạch và ức chế kênh calcium của betaxolol đã được chỉ ra trong một số
nghiên cứu in vivo bằng cách sử dụng các mạch máu ở mắt và ngoài mắt trong các
mô hình nghiên cứu ở chuột, chuột lang, thỏ, chó, lợn và bò.
Tác dụng bảo vệ thần kinh của betaxolol cũng
đã được chứng minh trong các thí nghiệm in vivo cũng như in vitro ở võng mạc
thỏ, môi trường nuôi vỏ não chuột và nuôi võng mạc gà con.
Khả năng sinh ung thư, đột biến gen, suy
giảm khả năng sinh sản : Betaxolol HCl cho thấy không có tác dụng gây ung
thư.
CHỈ ĐỊNH
Tổng quát :
Đái tháo đường : các thuốc ức chế thụ thể
bêta-adrenergic có thể che lấp các dấu hiệu và triệu chứng hạ đường huyết cấp
tính.
Nhiễm độc giáp (thyrotoxicosis) : các thuốc
chẹn bêta-adrenergic có thể che lấp một số dấu hiệu lâm sàng (ví dụ nhịp tim
nhanh) của chứng cường giáp.
Yếu cơ : ức chế bêta-adrenergic đã được báo
cáo có tác dụng làm yếu cơ giống như một số triệu chứng của bệnh nhược cơ.
Phẫu thuật lớn : nên chú ý ngưng thuốc chẹn
bêta-adrenergic từ từ trước khi gây mê.
Đối với phổi : nên thận trọng trong điều trị
những bệnh nhân glaucome có hạn chế nhiều về chức năng hô hấp.
Thông tin cho bệnh nhân :
Không để chạm đầu ống thuốc nhỏ mắt vào bất
kỳ vật gì có thể làm nhiễm bẩn thuốc. Không sử dụng thuốc khi có mang kính sát
tròng (contact lenses).
Sử dụng trong nhi khoa :
Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả
của thuốc đối với trẻ em.
LÚC CÓ THAI
Nên theo dõi những bệnh nhân vừa dùng chẹn
bêta-adrenergic đường uống vừa nhỏ huyền dịch nhỏ mắt Betoptic S 0,25% để phát
hiện tác dụng bổ sung có thể có của hai thuốc lên nhãn áp hay các tác dụng lên
toàn thân của hiện tượng chẹn bêta. Nên theo dõi sát bệnh nhân khi dùng thuốc
chẹn bêta cho những bệnh nhân đang dùng thuốc hủy catecholamine như reserpine
bởi vì có khả năng có tác dụng bổ sung của hai thuốc và gây hạ huyết áp và/hay
chậm nhịp tim.
Mắt : ở những bệnh bị glaucome góc đóng, mục
tiêu điều trị tức thời là mở lại góc bằng cách gây co đồng tử với thuốc co đồng
tử. Betaxolol ít hay hay không có tác dụng lên đồng tử. Khi huyền dịch nhỏ mắt
Betoptic S được sử dụng để làm hạ nhãn áp trong glaucome góc đóng, nên dùng phối
hợp với một thuốc làm co đồng tử chứ không nên sử dụng một mình.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Mắt : Trong các thử nghiệm lâm sàng, hiện
tượng thường xảy ra nhất khi dùng huyền dịch nhỏ mắt Betoptic S 0,25% là khó
chịu tạm thời ở mắt. Sau đây là một số tình trạng khác đã được báo cáo ở một số
nhỏ bệnh nhân : nhìn mờ, viêm giác mạc dạng chấm, cảm giác xốn ở mắt, chảy nước
mắt, ngứa, khô mắt, đỏ mắt, viêm, xuất tiết, đau ở mắt, giảm thị lực và cứng mi
mắt.
Toàn thân : Các phản ứng toàn thân sau khi
dùng huyền dịch nhỏ mắt Betoptic S 0,25% hay dung dịch nhỏ mắt Betoptic 0,5%
hiếm khi được báo cáo.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Lắc kỹ trước khi sử dụng.
Liều đề nghị là nhỏ một hay hai giọt huyền
dịch nhỏ mắt Betoptic S 0,25% vào mắt bị bệnh hai lần mỗi ngày. Ở một số bệnh
nhân, phải cần vài tuần đáp ứng hạ nhãn áp mới ổn định. Cũng như bất kỳ loại
thuốc mới nào, người ta khuyên theo dõi bệnh nhân cẩn thận. Nếu điều trị như
trên mà nhãn áp bệnh nhân vẫn không được khống chế một cách đầy đủ, có thể điều
trị phối hợp với pilocarpine và các thuốc co đồng tử khác và/hay dùng
epinephrine và/hay thuốc ức chế carbonic anhydrase,
QUÁ LIỀU