Ecazide phối hợp một thuốc ức chế men chuyển là
captopril, và một thuốc lợi tiểu là hydrochlorothiazide, do đó tác dụng hạ huyết
áp được hiệp đồng.
Cơ chế tác động dược lý :
- Captopril :
Captopril là thuốc ức chế men chuyển
angiotensine I thành angiotensine II, chất gây co mạch đồng thời kích thích sự
bài tiết aldostérone ở vỏ thượng thận.
Kết quả là :
- giảm bài tiết aldostérone,
- tăng hoạt động của rénine trong huyết tương,
aldostérone không còn đóng vai trò kiểm tra ngược âm tính,
- giảm tổng kháng ngoại biên với tác động ưu
tiên trên cơ và trên thận, do đó không gây giữ muối nước hoặc nhịp tim nhanh
phản xạ trong điều trị lâu dài.
Tác động hạ huyết áp của captopril cũng được
thể hiện ở những bệnh nhân có nồng độ rénine thấp hoặc bình thường.
- Hydrochlorothiazide :
Hydrochlorothiazide ức chế sự tái hấp thu chủ
động sodium, chủ yếu ở ống lượn xa, và như thế làm tăng sự bài tiết sodium và
chlorure qua nước tiểu, và ở mức độ thấp hơn, sự bài tiết của potassium và
magnésium, làm tăng bài niệu và gây tác dụng hạ huyết áp.
Đặc tính của tác động hạ huyết áp :
- Liên quan đến captopril :
Captopril có hiệu lực ở mọi giai đoạn của cao
huyết áp : nhẹ, vừa và nặng ; Captopril được ghi nhận làm giảm huyết áp tâm thu
và tâm trương, ở tư thế nằm và tư thế đứng.
Tác động hạ huyết áp có được sau khi uống thuốc
15 phút và có hiệu lực tối đa sau khi uống thuốc từ 1 đến 1 giờ 30 phút. Thời
gian tác động tùy thuộc vào liều, thường từ 6 đến 12 giờ.
Ở những bệnh nhân có đáp ứng, huyết áp được trở
lại bình thường sau 15 ngày điều trị, và duy trì ở mức ổn định không tái lại.
Khi ngưng thuốc không xảy ra hiện tượng huyết
áp tăng vọt trở lại.
- Liên quan đến hydrochlorothiazide :
Hydrochlorothiazide cho tác động lợi tiểu sau
khi uống khoảng 2 giờ, cho tác động tối đa sau 4 giờ và duy trì tác động trong 6
đến 12 giờ.
Khi tăng đến một liều nào đó thì tác dụng điều
trị của hydrochlorothiazide không tăng nữa, trong khi đó thì các tác dụng ngoại
ý lại tăng : trường hợp điều trị không thấy có hiệu quả, không nên tăng liều lên
quá liều khuyến cáo.
- Liên quan đến dạng phối hợp :
Qua các khảo sát lâm sàng, dùng đồng thời
captopril và hydrochlorothiazide sẽ cho tác dụng hạ huyết áp quan trọng so với
khi dùng riêng rẽ từng chất.
Dùng captopril sẽ ức chế trục
rénine-angiotensine-aldostérone và làm giảm sự mất potassium gây bởi
hydrochlorothiazide.
Phối hợp với một thuốc lợi tiểu thiazide sẽ cho
tác dụng hiệp đồng. Ngoài ra dạng phối hợp thuốc ức chế men chuyển và thuốc lợi
tiểu thiazide sẽ làm giảm nguy cơ hạ kali huyết gây bởi thuốc lợi tiểu nếu chỉ
dùng một mình.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Liên quan đến captopril :
Captopril được hấp thu nhanh qua đường uống
(đỉnh hấp thu trong máu đạt được trong giờ đầu tiên).
Tỉ lệ hấp thu chiếm 75% liều dùng và giảm từ 30
đến 50% khi dùng chung với thức ăn, tuy nhiên không ảnh hưởng gì đến tác dụng
điều trị.
Có 30% gắn với albumine huyết tương. Thời gian
bán hủy khoảng 2-3 giờ.
Có 95% captopril bị đào thải qua nước tiểu
(trong đó 40 đến 50 dưới dạng không bị biến đổi).
Captopril qua được nhau thai.
Một lượng rất nhỏ captopril được bài tiết qua
sữa mẹ.
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
- Hấp thu :
Sinh khả dụng của hydrochlorothiazide thay đổi
tùy người từ 60 đến 80%. Thời gian cần thiết để đạt nồng độ tối đa trong huyết
tương (Tmax) dao động từ 1,5 đến 5 giờ, trung bình khoảng 4 giờ.
- Phân phối :
Liên kết với protéine huyết tương khoảng 40%.
Thời gian bán hủy rất thay đổi tùy người, từ 6
đến 25 giờ.
- Đào thải :
Thanh thải ở thận chiếm khoảng 90% thanh thải
toàn phần.
Lượng hoạt chất không bị biến đổi được tìm thấy
trong nước tiểu chiếm 95%.
Ở người suy thận và suy tim, thanh thải ở thận
của hydrochlorothiazide giảm và thời gian bán hủy đào thải tăng. Điều này cũng
tương tự đối với người lớn tuổi, ngoài ra còn có tăng nồng độ tối đa trong huyết
tương.
CHỈ ĐỊNH
Liên quan đến captopril :
Cơ địa bị suy giảm miễn dịch : nguy cơ
bị giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt.
Các thuốc ức chế men chuyển trong đó có
captopril đôi khi ngoại lệ có thể gây mất bạch cầu hạt và/hoặc gây suy tủy khi
chúng được sử dụng :
- ở liều cao (> 150 mg/ngày),
- ở bệnh nhân suy thận phối hợp với các bệnh hệ
thống (bệnh collagène như lupus ban đỏ rải rác hoặc bệnh xơ cứng bì), được điều
trị bằng thuốc làm giảm miễn dịch và/hoặc những thuốc có khả năng gây giảm bạch
cầu. Trường hợp phối hợp nhiều loại thuốc, cần theo dõi sát mức độ dung nạp ở
máu và ở thận.
Việc chấp hành tốt các chế độ liều lượng khuyến
cáo có thể ngăn ngừa xảy ra các tai biến trên (không vượt quá liều captopril 150
mg/ngày). Tuy nhiên, nếu sử dụng thuốc ức chế men chuyển trên nhóm bệnh nhân
này, cần cân nhắc kỹ giữa hiệu quả điều trị và các nguy cơ.
Phù mạch (phù Quincke) :
Phù mạch ở mặt, đầu chi, môi, lưỡi, thanh môn
và/hoặc thanh quản đôi khi cũng được ghi nhận trong một số hiếm trường hợp điều
trị bằng thuốc ức chế men chuyển, kể cả captopril. Trong những trường hợp này,
phải ngưng ngay captopril và theo dõi bệnh nhân cho đến khi hết hẳn phù. Nếu chỉ
bị phù ở mặt và lưỡi, có thể tự khỏi không cần phải điều trị, có thể dùng các
thuốc kháng histamine để làm dịu các triệu chứng.
Nếu phù mạch phối hợp với phù thanh quản có thể
gây tử vong. Nếu phù sang đến lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản, có thể gây nghẹt
thở, cần phải được xử lý ngay lập tức bằng cách tiêm dưới da dung dịch
adrénaline 1/1000 (0,3 ml đến 0,5 ml) và áp dụng các biện pháp cấp cứu thích
hợp.
Không được tiếp tục kê toa thuốc ức chế men
chuyển ở những bệnh nhân này (xem Chống chỉ định).
Bệnh nhân đã có tiền sử bị phù Quincke không
liên quan đến việc dùng thuốc ức chế men chuyển cũng có nguy cơ cao khi dùng
loại thuốc này.
Lọc máu :
Các phản ứng giống phản vệ (phù lưỡi và môi với
khó thở và giảm huyết áp) cũng được ghi nhận khi làm thẩm phân có dùng màng có
tính thấm cao (polyacrylonitrile) ở những bệnh được điều trị bằng thuốc ức chế
men chuyển. Nên tránh phối hợp này.
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
Trường hợp có tổn thương gan, thuốc lợi tiểu
nhóm thiazide có thể gây bệnh lý não do gan. Trong trường hợp này, phải ngưng
thuốc lợi tiểu ngay.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Liên quan đến captopril :
- Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức
chế men chuyển, có đặc tính dai dẳng và khỏi khi ngưng thuốc. Nguyên nhân do
thuốc có thể được nghĩ đến, tuy nhiên nếu việc điều trị bằng thuốc ức chế men
chuyển là cần thiết, có thể duy trì điều trị.
- Trẻ em : hiệu lực và mức độ dung nạp của
captopril ở trẻ em chưa được thiết lập bằng các nghiên cứu có kiểm soát. Tuy
nhiên, captopril vẫn được sử dụng để điều trị bệnh tim mạch ở trẻ em. Nên bắt
đầu điều trị ở bệnh viện.
- Trường hợp suy tim, mất muối-nước, v.v. :
nguy cơ bị hạ huyết áp và/hoặc suy thận.
Có sự kích thích hệ thống
rénine-angiotensine-aldostérone đã được ghi nhận, đặc biệt ở bệnh nhân bị mất
muối-nước quan trọng (ăn kiêng theo chế độ không có muối hoặc điều trị kéo dài
bằng thuốc lợi tiểu), ở bệnh nhân có huyết áp động mạch ban đầu thấp, trường hợp
bị hẹp động mạch thận, suy tim sung huyết hoặc xơ gan cổ trướng phù báng.
Thuốc ức chế men chuyển có thể phong bế hệ
thống này, nhất là trong lần sử dụng đầu tiên và trong hai tuần lễ đầu điều trị,
có thể gây ra tụt huyết áp đột ngột và/hoặc, mặc dù rất hiếm và thời hạn thay
đổi, tăng créatinine huyết tương gây suy thận chức năng đôi khi cấp tính.
Trong những trường hợp nêu trên, cần bắt đầu
điều trị với liều thấp và tăng từ từ.
- Người già : cần đánh giá chức năng thận và
kali huyết trước khi bắt đầu điều trị (xem Liều lượng và Cách dùng). Liều ban
đầu được điều chỉnh lại sau đó tùy theo đáp ứng về huyết áp, nhất là trong
trường hợp mất muối-nước, nhằm tránh tụt huyết áp có thể xảy ra đột ngột.
- Trường hợp suy thận (thanh thải créatinine
dưới 30 ml/phút) : chống chỉ định. Ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine
30-80 ml/phút và ở những bệnh nhân bị bệnh cầu thận, nên theo dõi định kỳ kali
và créatinine (xem Liều lượng và Cách dùng).
- Bệnh nhân bị xơ vữa động mạch : do nguy cơ bị
hạ huyết áp có thể xảy ra trên tất cả bệnh nhân, cần phải đặc biệt thận trọng ở
những bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc suy tuần hoàn não, bằng cách
bắt đầu điều trị ở liều thấp.
- Bệnh nhân bị cao huyết áp do thận : nguyên
tắc điều trị cao huyết áp do thận là vấn đề tái tưới máu thận (tái tạo mạch máu
thận). Tuy nhiên, dùng captopril có thể có ích cho những bệnh nhân này trong
thời gian chờ đợi phẫu thuật điều chỉnh hoặc trường hợp không thể phẫu thuật
được. Khi điều trị phải dùng liều ban đầu thấp và theo dõi chức năng thận cũng
như kali huyết, một vài bệnh nhân có thể bị suy thận chức năng, tuy nhiên sẽ hồi
phục lại khi ngưng điều trị.
- Bệnh nhân suy tim nặng (giai đoạn IV) hoặc
đái tháo đường lệ thuộc insuline (có khuynh hướng tăng kali huyết) : khi điều
trị phải được theo dõi chặt chẽ lâm sàng và liều ban đầu phải thấp.
- Bệnh nhân cao huyết áp với suy mạch vành :
không ngưng thuốc chẹn bêta ; phối hợp thuốc ức chế men chuyển với thuốc chẹn
bêta.
- Ghép thận hoặc thẩm phân máu :
Thiếu máu với giảm hàm lượng hémoglobine đã
được ghi nhận, và giảm nhiều nếu dùng liều ban đầu cao. Tác dụng này dường như
không phụ thuộc vào liều lượng nhưng có liên quan đến cơ chế tác động của các
thuốc ức chế men chuyển.
Việc giảm này ở mức độ trung bình, xảy ra trong
thời hạn khoảng 1 đến 6 tháng, sau đó ở mức ổn định. Sẽ khỏi sau khi ngưng điều
trị. Việc điều trị có thể được áp dụng nhưng cần phải kiểm tra máu thường xuyên.
- Can thiệp phẫu thuật : trường hợp có dùng
thuốc gây vô cảm, và nhất là với thuốc gây vô cảm có tiềm năng làm hạ huyết áp
thì khi sử dụng, thuốc ức chế men chuyển sẽ làm tụt huyết áp. Nên ngưng điều trị
một ngày trước nếu có thể khi phẫu thuật đối với những thuốc ức chế men chuyển
có thời gian tác động ngắn như captopril.
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
- Cân bằng nước và chất điện giải :
Natri huyết :
Phải kiểm tra natri huyết trước khi bắt đầu
điều trị và đều đặn sau đó. Tất cả thuốc lợi tiểu đều có thể gây hạ natri huyết
với hậu quả đôi khi nặng. Việc giảm natri huyết lúc đầu có thể không có triệu
chứng, do đó cần phải kiểm tra đều đặn nhất là ở những người dễ có nguy cơ như
người già, suy dinh dưỡng nặng, xơ gan (xem Tác dụng ngoại ý và Quá liều).
Kali huyết :
Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide có thể gây hạ kali
huyết. Cần dự báo trước nguy cơ hạ kali huyết (< 3,5 mmol/l) nhất là ở những
người dễ có nguy cơ như người già, suy dinh dưỡng hoặc được điều trị bằng nhiều
loại thuốc, bệnh nhân xơ gan với phù và cổ trướng, bệnh nhân mắc bệnh mạch vành,
bệnh nhân suy tim. Trong những trường hợp này, hạ kali huyết làm tăng độc tính
trên tim của digitalis và có nguy cơ gây loạn nhịp.
Ở bệnh nhân có khoảng QT dài, nguồn gốc bẩm
sinh hoặc do thuốc, hạ kali huyết dễ gây loạn nhịp, đặc biệt là gây xoắn đỉnh,
nhất là khi bệnh nhân bị chậm nhịp tim.
Trong tất cả trường hợp, cần kiểm tra kali
huyết thường hơn và lần kiểm tra đầu tiên phải được tiến hành trong tuần lễ điều
trị đầu.
Calci huyết :
Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide có thể làm giảm
bài tiết calci qua nước tiểu và gây tăng nhẹ và tạm thời calci huyết. Nếu calci
huyết tăng nhiều có thể có liên quan với cường tuyến cận giáp trước đó không
được biết. Trong trường hợp này, ngưng điều trị trước khi thăm dò chức năng
tuyến cận giáp.
- Đường huyết : tác dụng tăng đường huyết của
thuốc lợi tiểu nhóm thiazide không đáng kể. Tuy nhiên, ở bệnh nhân tiểu đường,
cần phải kiểm tra đường huyết thường xuyên.
- Acide urique huyết : việc thuốc lợi tiểu nhóm
thiazide làm mất muối-nước sẽ làm giảm sự đào thải acide urique qua nước tiểu. Ở
bệnh nhân có acide urique trong máu tăng cao, khuynh hướng bị goutte có thể sẽ
tăng : điều chỉnh liều lượng theo nồng độ acide urique trong huyết tương.
- Chức năng thận : thuốc lợi tiểu thiazide chỉ
có hiệu quả tốt khi chức năng thận còn bình thường hoặc chỉ hỏng nhẹ (chẳng hạn
được suy luận từ cách tính thanh thải créatinine dựa theo créatinine huyết). Ở
bệnh nhân lớn tuổi, giá trị créatinine huyết được đánh giá lại tùy theo tuổi
tác, trọng lượng và giới tính của bệnh nhân, chẳng hạn theo công thức Cockroft*
:
* Thanh thải créatinine =
(140 - tuổi) x trọng lượng / 0,814 x créatinine
huyết
(với tuổi được tính theo năm, trọng lượng theo
kg, créatinine huyết theo mmol/l).
Công thức trên được áp dụng nam giới, còn đối
với phụ nữ thì sẽ lấy kết quả trên nhân với 0,85.
Giảm thể tích máu thứ phát do mất nước và natri
gây bởi thuốc lợi tiểu trong thời gian điều trị đầu, sẽ làm giảm sự lọc ở cầu
thận. Kết quả là làm tăng urea huyết và créatinine huyết. Việc suy chức năng
thận này chỉ tạm thời và không gây ảnh hưởng gì đối với người có chức năng thận
bình thường, nhưng có thể làm nặng thêm nếu trước đó chức năng thận đã bị suy.
- Cần lưu ý các vận động viên thể thao do thuốc
có chứa hoạt chất có thể cho kết quả dương tính khi xét nghiệm sử dụng chất kích
thích.
Liên quan đến captopril và
hydrochlorothiazide :
- Suy thận chức năng : nếu xảy ra trong thời
gian điều trị, nên tạm ngưng thuốc và dùng trở lại hoặc với liều thấp hoặc với
thuốc chỉ chứa một trong hai thành phần.
- Hạ huyết áp và mất cân bằng nước và chất điện
giải : nếu xảy ra trong thời gian điều trị, cần tăng cường theo dõi các chất
điện phân trong huyết tương.
Nếu huyết áp tụt nhiều, cần truyền tĩnh mạch
huyết thanh muối đẳng trương.
Hạ huyết áp tạm thời không cần phải ngưng điều
trị. Sau khi ổn định lại thể tích máu và nâng huyết áp động mạch lên đến mức
mong muốn, có thể tiếp tục điều trị với liều thấp hoặc chỉ dùng một trong hai
thành phần.
- Kali huyết : phối hợp thuốc ức chế men chuyển
và thuốc lợi tiểu không thể loại hẳn khả năng gây hạ kali huyết, nhất là ở bệnh
nhân tiểu đường hoặc suy thận. Nên kiểm tra đều đặn kali huyết.
LÚC CÓ THAI
Chống chỉ định cho phụ nữ mang thai do trong
thành phần có thuốc ức chế men chuyển.
Liên quan đến captopril :
Các nghiên cứu trên thú vật cho thấy không có
tác dụng gây quái thai, nhưng có độc tính trên phôi thai của nhiều loài.
Ở phụ nữ có thai được điều trị bằng thuốc ức
chế men chuyển :
- chưa có nghiên cứu dịch tễ học rộng rãi ;
- một vài quan sát riêng rẽ ở phụ nữ có thai
trong ba tháng đầu cho thấy rằng nói chung có thể bảo đảm về phương diện không
gây quái thai ngoại trừ một vài trường hợp dị dạng vòm sọ có liên quan đến việc
dùng lâu dài thuốc ức chế men chuyển trong thời gian mang thai.
- dùng thuốc trong 3 tháng giữa và 3 tháng
cuối, và nhất là nếu tiếp tục cho đến khi sinh, dễ có nguy cơ gây tổn thương
thận có thể gây giảm chức năng thận của bào thai với đôi khi bị thiểu ối, suy
thận ở trẻ sơ sinh, với hạ huyết áp và tăng kali huyết, thậm chí vô niệu (có hồi
phục hoặc không).
Từ đó kết luận rằng :
Nguy cơ gây dị dạng, nếu có, rất thấp. Không
cần thiết phải phá thai khi tình cờ phát hiện có thai trong khi đang điều trị.
Tuy nhiên cần siêu âm để kiểm tra vòm sọ.
Ngược lại, nếu phát hiện có thai khi đang điều
trị bằng captopril, cần ngưng ngay thuốc này và trong suốt thai kỳ.
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
Một cách tổng quát, nên tránh dùng thuốc lợi
tiểu thiazide trong thời gian mang thai và tuyệt đối không kê toa khi có phù
sinh lý trong thời gian mang thai. Các thuốc lợi tiểu có thể gây thiếu máu cục
bộ ở bào thai với nguy cơ gây suy dinh dưỡng bào thai.
Tuy nhiên, các thuốc lợi tiểu cũng là một thuốc
chủ yếu điều trị phù có nguồn gốc do tim, gan và thận xảy ra ở phụ nữ có thai.
LÚC NUÔI CON BÚ
Liên quan đến captopril :
Không nên phối hợp :
- Thuốc lợi tiểu tăng kali huyết
(spironolactone, triamtérène, một mình hoặc phối hợp...), kali (dạng muối) :
tăng kali huyết (có thể gây tử vong), nhất là ở bệnh nhân suy thận (phối hợp tác
động làm tăng kali huyết). Không phối hợp thuốc lợi tiểu tăng kali huyết với
thuốc ức chế men chuyển, trừ trường hợp bệnh nhân bị hạ kali huyết.
Một cách tổng quát hơn :
Tránh phối hợp thuốc ức chế men chuyển với
những thuốc gây ức chế miễn dịch và/hoặc gây giảm bạch cầu (xem Chú ý đề phòng
và Thận trọng lúc dùng).
Liên quan đến hydrochlorothiazide
:
Không nên phối hợp :
- Các thuốc không chống loạn nhịp gây xoắn đỉnh
(astémizole, bépridil, érythromycine IV, halofandrine, pentamidine, sultopride,
terfénadine, vincamine) : xoắn đỉnh (hạ kali huyết, chậm nhịp tim hay khoảng QT
dài là những yếu tố thuận lợi).
Sử dụng các chế phẩm không gây xoắn đỉnh trường
hợp có hạ kali huyết.
Thận trọng khi phối hợp :
- Các thuốc gây hạ kali huyết khác :
amphotéricine B (đường tĩnh mạch), gluco và minéralocorticoide (đường toàn
thân), tétracosactide, thuốc nhuận trường kích thích : tăng nguy cơ hạ kali
huyết (hiệp đồng tác dụng).
Theo dõi kali huyết và điều chỉnh nếu cần ; đặc
biệt lưu ý trường hợp điều trị bằng digitalis. Dùng thuốc nhuận trường không gây
kích thích.
- Digitalis : hạ kali huyết thuận lợi cho
digitalis gây độc tính.
Theo dõi kali huyết, điện tâm đồ và xem xét lại
việc điều trị nếu cần.
- Thuốc chống loạn nhịp gây xoắn đỉnh : nhóm Ia
(quinidine, hydroquinidine, disopyramide), amiodarone, brétylium, sotalol : xoắn
đỉnh (hạ kali huyết, chậm nhịp tim hay khoảng QT dài là những yếu tố thuận lợi).
Dự phòng hạ kali huyết và điều chỉnh nếu cần :
theo dõi khoảng QT. Trường hợp bị xoắn đỉnh, không dùng thuốc chống loạn nhịp
(gây điện tâm thu).
- Metformine : nhiễm acide lactique do
metformine có thể gây suy thận chức năng có liên quan đến thuốc lợi tiểu và đặc
biệt nhất là thuốc lợi tiểu vùng quai.
Không dùng metformine khi créatinine huyết quá
15 mg/l (135 mmol/l)
ở nam giới và 12 mg/l (110
mmol/l) ở phụ
nữ.
- Thuốc cản quang có iode : trường hợp mất nước
gây bởi thuốc lợi tiểu, nguy cơ suy thận cấp sẽ tăng, đặc biệt khi dùng liều cao
thuốc cản quang có iode.
Bù nước trước khi dùng thuốc cản quang có iode.
Lưu ý khi phối hợp :
- Calcium (muối) : có thể gây tăng calci huyết
do giảm đào thải calci qua thận.
- Ciclosporine : có thể gây tăng créatinine
huyết mà không làm thay đổi nồng độ ciclosporine trong máu, ngay cả khi không có
mất muối nước.
Liên quan đến captopril và
hydrochlorothiazide :
Không nên phối hợp :
- Lithium : tăng lithium huyết có thể đến
ngưỡng gây độc (do giảm bài tiết lithium ở thận). Nếu bắt buộc phải dùng thuốc
ức chế men chuyển và thuốc lợi tiểu hạ kali huyết, cần theo dõi sát lithium
huyết và điều chỉnh liều.
Thận trọng khi phối hợp :
- Thuốc trị tiểu đường : insuline, sulfamide hạ
đường huyết : dùng thuốc ức chế men chuyển có thể làm tăng tác dụng hạ đường
huyết ở bệnh nhân tiểu đường được điều trị bằng insuline hoặc sulfamide hạ đường
huyết. Tuy nhiên việc tụt đường huyết chỉ xảy ra trong những trường hợp ngoại
lệ.
- Baclofène : tăng tác dụng hạ huyết áp.
- Thuốc kháng viêm không stéroide (dùng đường
toàn thân), salicylate liều cao : suy thận cấp ở bệnh nhân mất nước (giảm lọc ở
cầu thận).
Bù nước cho bệnh nhân ; theo dõi chức năng thận
khi bắt đầu điều trị.
Lưu ý khi phối hợp :
- Thuốc chống trầm cảm nhóm imipramine (có cấu
trúc 3 vòng), thuốc an thần kinh : tăng tác dụng hạ huyết áp và nguy cơ hạ huyết
áp tư thế (hiệp đồng tác dụng).
- Corticoide, tétracosactide : giảm tác dụng hạ
huyết áp (do corticoide gây giữ muối nước).
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
Về phương diện lâm sàng :
Liên quan đến captopril :
- Nhức đầu, suy nhược, cảm giác chóng mặt, rối
loạn tính khí và/hoặc rối loạn giấc ngủ, vọp bẻ.
- Hạ huyết áp theo tư thế hoặc không (xem Chú ý
đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Phát ban ngoài da.
- Đau bao tử, chán ăn, buồn nôn, đau bụng, thay
đổi vị giác.
- Ho khan được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức
chế men chuyển. Ho có tính chất dai dẳng và sẽ khỏi khi ngưng điều trị. Nguyên
nhân do thuốc phải được xét đến khi có những triệu chứng trên.
- Ngoại lệ : phù mạch (phù Quincke) : xem Chú ý
đề phòng và Thận trọng lúc dùng.
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
- Trường hợp suy gan, có thể xảy ra bệnh não do
gan (xem Chống chỉ định, Chú ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Có thể làm nặng hơn lupus ban đỏ cấp đã bị
trước đó, viêm mạch gây hoại tử, ngoại lệ có thể gây hội chứng Lyell.
- Buồn nôn, táo bón, chóng mặt, suy nhược, dị
cảm, nhức đầu : các triệu chứng này hiếm gặp và thường sẽ khỏi khi giảm liều.
- Ngoại lệ : viêm tụy, rối loạn thị giác vào
thời điều trị đầu.
Về phương diện sinh học :
Liên quan đến captopril :
- Tăng vừa phải urê và créatinine huyết tương,
hồi phục khi ngưng điều trị. Việc tăng này thường gặp hơn ở bệnh nhân bị hẹp
động mạch thận, cao huyết áp được điều trị bằng thuốc lợi tiểu, bệnh nhân suy
thận. Trường hợp bị bệnh cầu thận, dùng thuốc ức chế men chuyển có thể gây
protéine niệu.
- Tăng kali huyết, thường là thoáng qua.
- Thiếu máu (xem Chú ý đề phòng và Thận trọng
lúc dùng) được ghi nhận khi dùng thuốc ức chế men chuyển trên những cơ địa đặc
biệt (như ghép thận, lọc máu).
Liên quan đến hydrochlorothiazide :
- Hạ kali huyết, chủ yếu trong trường hợp mức
độ bài niệu mạnh, và đặc biệt trầm trọng trong một vài nhóm có nguy cơ (xem Chú
ý đề phòng và Thận trọng lúc dùng).
- Hạ natri huyết với giảm thể tích máu có nguồn
gốc do mất nước và hạ huyết áp tư thế, thậm chí gây hội chứng lú lẫn. Nếu đồng
thời có mất ion chlore có thể gây nhiễm kiềm chuyển hóa do bù trừ : mức độ và tỉ
lệ xảy ra tác dụng này rất thấp.
- Tăng acide urique huyết và đường huyết trong
thời gian điều trị : phải hướng dẫn kỹ cho người bị goutte hoặc tiểu đường về
những lưu ý khi dùng các thuốc lợi tiểu loại này.
- Tăng lipide máu khi dùng liều cao.
- Rất hiếm khi xảy ra các rối loạn máu : giảm
tiểu cầu, giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt, bất sản tủy, thiếu máu huyết giải.
- Ngoại lệ có thể gây tăng calci huyết.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG