- Dị ứng đã biết với dẫn xuất salicylate và các
chất cùng nhóm, nhất là các kháng viêm không stéroide.
- Loét dạ dày-tá tràng tiến triển.
- Bệnh chảy máu do thể tạng hoặc mắc phải.
- Nguy cơ xuất huyết.
- Phụ nữ có thai (3 tháng cuối) : xem Lúc có
thai và cho con bú.
- Méthotrexate với liều >= 15 mg/tuần : xem
Tương tác thuốc.
- Các thuốc uống chống đông máu khi dẫn xuất
salicylate được dùng ở liều cao trong các bệnh thấp khớp : xem Tương tác thuốc.
CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG
LÚC DÙNG
Không nên chỉ định viên 500 mg cho trẻ em, ở
lứa tuổi này nên dùng những dạng có hàm lượng thấp hơn.
Không nên chỉ định aspirine trong bệnh thống
phong (goutte).
Aspirine phải được sử dụng thận trọng trong
những trường hợp :
- có tiền sử loét dạ dày tá tràng và xuất huyết
tiêu hóa ;
- suy thận ;
- suyễn : ở một vài bệnh nhân có thể xuất hiện
cơn suyễn có liên quan đến dị ứng aspirine hoặc thuốc kháng viêm không stéroide
; chống chỉ định trong những trường hợp này ;
- băng huyết và/hoặc rong kinh vì dùng aspirine
có nguy cơ làm tăng lượng huyết và kéo dài chu kỳ kinh nguyệt.
Do aspirine có tác dụng chống kết tập tiểu cầu,
ngay cả khi dùng ở liều thấp và duy trì trong nhiều ngày, cần thông báo cho bệnh
nhân biết về nguy cơ xuất huyết có thể xay ra khi cần phải phẫu thuật, ngay cả
khi làm những tiểu phẫu (như nhổ răng).
Ở liều cao được chỉ định trong bệnh thấp khớp,
cần theo dõi các dấu hiệu ù tai, giảm thính lực và chóng mặt. Nếu xảy ra các dấu
hiệu này, cần giảm liều ngay.
LÚC CÓ THAI
Chống chỉ định phối hợp :
- Méthotrexate ở liều >= 15 mg/tuần : tăng độc
tính trên máu của méthotrexate (do thuốc kháng viêm làm giảm thanh thải của
méthotrexate ở thận, ngoài ra nhóm salicylate còn cắt liên kết của méthotrexate
với protéine huyết tương).
- Salicylate liều cao với các thuốc uống chống
đông máu : tăng nguy cơ xuất huyết do ức chế chức năng của tiểu cầu, tấn công
lên niêm mạc dạ dày-tá tràng và cắt liên kết của thuốc uống chống đông máu với
protéine huyết tương.
Không nên phối hợp :
- Héparine dạng tiêm : tăng nguy cơ xuất huyết
do dẫn xuất salicylate gây ức chế chức năng tiểu cầu và tấn công lên niêm mạc dạ
dày-tá tràng.
Thay bằng một thuốc giảm đau hạ sốt khác (chủ
yếu là paracétamol).
- Salicylate liều cao với các thuốc kháng viêm
không stéroide khác : tăng nguy cơ gây loét tá tràng và xuất huyết đường tiêu
hóa do hiệp đồng tác dụng.
- Salicylate liều thấp với các thuốc uống chống
đông máu : tăng nguy cơ xuất huyết do dẫn xuất salicylate gây ức chế chức năng
của tiểu cầu và tấn công lên niêm mạc dạ dày-tá tràng.
Cần đặc biệt kiểm tra thời gian máu chảy.
- Ticlopidine : tăng nguy cơ xuất huyết do hiệp
đồng tác dụng chống kết tập tiểu cầu cộng với tác dụng tấn công lên niêm mạc dạ
dày-tá tràng của dẫn xuất salicylate. Nếu bắt buộc phải phối hợp thuốc, nên tăng
cường theo dõi lâm sàng và sinh học, đặc biệt là thời gian máu chảy.
- Các thuốc thải acide urique niệu như
benzbromarone, probénécide : giảm tác dụng thải acide urique do cạnh tranh sự
đào thải acide urique ở ống thận.
Thận trọng khi phối hợp :
- Thuốc trị tiểu đường (insuline,
chlorpropamide) : tăng tác dụng hạ đường huyết với acide acétylsalicyque liều
cao (acide acétylsalicylique có tác dụng hạ đường huyết và cắt sulfamide ra khỏi
liên kết với protéine huyết tương).
Báo cho bệnh nhân biết điều này và tăng cường
tự theo dõi đường huyết.
- Glucocorticoide đường toàn thân : giảm nồng
độ salicylate trong máu trong thời gian điều trị bằng corticoide với nguy cơ quá
liều salicylate sau ngưng phối hợp do corticoide làm tăng đào thải salicylate.
Điều chỉnh liều salicylate trong thời gian phối
hợp và sau khi ngưng phối hợp với glucocorticoide.
- Interféron
a : nguy cơ
gây ức chế tác dụng của thuốc này. Nên thay bằng một thuốc giảm đau hạ sốt khác
không thuộc nhóm salicylate.
- Méthotrexate liều thấp, dưới 15 mg/tuần :
tăng độc tính trên máu của méthotrexate (do thuốc kháng viêm làm giảm thanh thải
của méthotrexate ở thận, ngoài ra nhóm salicylate còn cắt liên kết của
méthotrexate với protéine huyết tương).
Kiểm tra huyết đồ hàng tuần trong các tuần lễ
đầu điều trị phối hợp.
Tăng cường theo dõi trường hợp chức năng thận
của bệnh nhân bị hư hại, dù nhẹ, cũng như tăng cường theo dõi ở người già.
- Pentoxifylline : tăng nguy cơ xuất huyết.
Tăng cường theo dõi lâm sàng và kiểm tra thường
hơn thời gian máu chảy.
- Salicylate liều cao với thuốc lợi tiểu : gây
suy thận cấp ở bệnh nhân bị mất nước do giảm độ thanh lọc ở tiểu cầu tiếp theo
sau sự giảm tổng hợp prostaglandine ở thận.
Bù nước cho bệnh nhân và theo dõi chức năng
thận trong thời gian đầu phối hợp.
Lưu ý khi phối hợp :
- Dụng cụ đặt trong tử cung : nguy cơ (còn đang
tranh luận) giảm hiệu lực tránh thai.
- Thuốc làm tan huyết khối : tăng nguy cơ xuất
huyết.
- Thuốc băng niêm mạc dạ dày-ruột (muối, oxyde
và hydroxyde của Mg, Al và Ca) : tăng bài tiết salicylate ở thận do kiềm hóa
nước tiểu.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
- Ù tai, cảm giác giảm thính lực, nhức đầu,
thường là dấu hiệu của sự quá liều.
- Loét dạ dày.
- Xuất huyết tiêu hóa rõ ràng (ói máu, đi cầu
ra máu...) hoặc tiềm ẩn đưa đến tình trạng thiếu máu do thiếu sắt.
- Hội chứng xuất huyết (chảy máu cam, chảy máu
lợi, ban xuất huyết), với sự gia tăng thời gian máu chảy. Tác động này còn kéo
dài đến 4 hoặc 8 ngày sau khi ngưng dùng aspirine. Có thể gây nguy cơ xuất huyết
trong phẫu thuật.
- Tai biến do mẫn cảm (phù Quincke, nổi mày
đay, hen suyễn, tai biến phản vệ).
- Đau bụng.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Dùng cho người lớn.
Viên thuốc được uống không nhai với nhiều nước.
Trong các chỉ định giảm đau/hạ sốt :
- Người lớn :
- liều tối đa hàng ngày là 3 g.
- với mục đích điều trị : uống mỗi lần 1 viên
500 mg, nếu cần lặp lại sau mỗi 4 giờ, không quá 6 viên/ngày.
- Người già :
- liều tối đa hàng ngày là 2 g.
- với mục đích điều trị : uống mỗi lần 1 viên
500 mg, nếu cần lặp lại sau mỗi 4 giờ, không quá 4 viên/ngày.
Trong bệnh thấp khớp :
- liều hàng ngày từ 4 đến 6 viên chia ra làm 3
đến 4 lần.
- với mục đích điều trị : uống mỗi lần 2 viên
500 mg, lặp lại sau mỗi 6 giờ.
QUÁ LIỀU
Việc ngộ độc là rất đáng ngại đối với người lớn
tuổi và nhất là ở trẻ nhỏ (do điều trị quá liều hoặc ngẫu nhiên), đôi khi trầm
trọng có thể gây tử vong.
Dấu hiệu lâm sàng :
- Ngộ độc vừa phải : ù tai, cảm giác giảm thính
lực, nhức đầu, chóng mặt, nôn : đây là những dấu hiệu cho thấy quá liều, cần
phải giảm liều.
- Ngộ độc nặng : sốt, thở gấp, tích cétone,
nhiễm kiềm đường hô hấp, nhiễm acide chuyển hóa, hôn mê, trụy tim mạch, suy hô
hấp, hạ đường huyết trầm trọng.
Điều trị :
- Chuyển ngay lập tức đến bệnh viện chuyên
khoa.
- Rửa dạ dày để loại chất nuốt vào bao tử.
- Kiểm tra cân bằng kiềm-toan.
- Tăng bài niệu ; có thể làm thẩm phân lọc máu
hoặc thẩm phân phúc mạc nếu cần thiết.
- Điều trị triệu chứng.